Bản dịch Surah الدّخان bằng الفيتنامية từ الترجمة الفيتنامية - مركز رواد الترجمة
Verse 1
ﭑ
ﭒ
Ha. Mim.
Verse 2
ﭓﭔ
ﭕ
Thề bởi Kinh (Qur’an) quang minh.
Verse 3
Quả thật, TA (Allah) ban Nó xuống vào một đêm đầy ân phúc (đêm Al-Qadr – đêm Định Mệnh - của tháng Ramadan). Quả thật, TA là Đấng Cảnh Báo.
Verse 4
ﭠﭡﭢﭣﭤ
ﭥ
Trong đêm đó, mọi sự việc (liên quan đến bổng lộc, tuổi thọ và những gì khác) sẽ được phân định (cho một năm tới).
Verse 5
(Mọi) vấn đề (đều được tiến hành) theo chỉ thị của TA. Quả thật, TA là Đấng cử phái các vị Sứ Giả.
Verse 6
(Việc cử phái các vị Sứ Giả là) một Hồng Ân từ Thượng Đế của Ngươi (hỡi Thiên Sứ). Quả thật, Ngài là Đấng Hằng Nghe, Đấng Hằng Biết.
Verse 7
(Ngài là) Thượng Đế của các tầng trời, trái đất và vạn vật giữa chúng nếu các ngươi có một đức tin vững chắc nơi Ngài.
Verse 8
Không có Thượng Đế đích thực nào ngoài Ngài. (Ngài là) Đấng làm cho sống và làm cho chết. (Ngài là) Thượng Đế của các ngươi và là Thượng Đế của ông bà tổ tiên các ngươi.
Verse 9
ﮍﮎﮏﮐﮑ
ﮒ
(Những kẻ thờ đa thần không có đức tin vững chắn về điều đó), chúng chỉ biết đùa cợt trong sự hoài nghi.
Verse 10
ﮓﮔﮕﮖﮗﮘ
ﮙ
Vì vậy, Ngươi (hỡi Thiên Sứ) hãy đợi xem Ngày mà bầu trời sẽ tỏa ra lớp khói mờ rõ rệt.
Verse 11
ﮚﮛﮜﮝﮞﮟ
ﮠ
(Lớp khói mờ sẽ) bao trùm cả nhân loại. Đây là một sự trừng phạt đau đớn.
Verse 12
ﮡﮢﮣﮤﮥﮦ
ﮧ
(Lúc đó), chúng (những kẻ vô đức tin) sẽ nói: “Lạy Thượng Đế của bầy tôi! Xin Ngài hãy lấy sự trừng phạt này đi khỏi bầy tôi, bầy tôi (giờ đây) thực sự là những người có đức tin.”
Verse 13
Làm thế nào sẽ có cho chúng một lời nhắc nhở (tại thời điểm đó)? Quả thật, một Sứ Giả đã đến với chúng một cách công khai (để cảnh báo chúng).
Verse 14
ﮰﮱﯓﯔﯕﯖ
ﯗ
Nhưng chúng đã quay lưng lại với Y và nói: “Đồ học mót, kẻ khùng điên.”
Verse 15
Quả thật, TA sẽ lấy sự trừng phạt đi khỏi các ngươi trong một thời gian ngắn; nhưng chắc chắn các ngươi sẽ trở lại (vô đức tin).
Verse 16
ﯠﯡﯢﯣﯤﯥ
ﯦ
Vào Ngày mà TA sẽ túm bắt chúng mạnh bạo. Quả thật, TA sẽ trừng phạt chúng.
Verse 17
Quả thật, trước chúng, TA đã xử lý đám người của Pha-ra-ông và đã phái một Sứ Giả vinh dự đến gặp chúng.
Verse 18
(Musa) nói (với Pha-ra-ông và thuộc hạ của hắn): “Quí ngài hãy giao lại những người bề tôi của Allah cho tôi. Tôi thực sự là một Sứ Giả được cử đến gặp quí ngài.”
Verse 19
“Quí ngài chớ đừng xem mình tối cao hơn Allah. Tôi đến gặp quí ngài với một thẩm quyền rõ rệt.”
Verse 20
ﭜﭝﭞﭟﭠﭡ
ﭢ
“Tôi thực sự đã cầu xin Thượng Đế của tôi và cũng là Thượng Đế của quí ngài che chở khỏi bị quí ngài ném đá.”
Verse 21
ﭣﭤﭥﭦﭧ
ﭨ
“Nếu quí ngài không tin tôi thì quí ngài hãy để tôi yên.”
Verse 22
ﭩﭪﭫﭬﭭﭮ
ﭯ
Thế là (cuối cùng), Musa đã cầu nguyện Thượng Đế của Y rằng những người này là một đám người tội lỗi.
Verse 23
ﭰﭱﭲﭳﭴ
ﭵ
(Allah phán bảo Musa): “Ngươi hãy đưa bầy tôi của TA ra đi trong đêm, các ngươi sẽ bị truy sát.”
Verse 24
“Ngươi hãy rời biển, để mặc cho nó rẽ đôi. Quả thật, chúng sẽ là một đội quân bị nhấn chìm.”
Verse 25
ﭾﭿﮀﮁﮂ
ﮃ
Biết bao vườn tược, bao con suối chúng đã bỏ lại!
Verse 26
ﮄﮅﮆ
ﮇ
Biết bao đồng ruộng, bao biệt thự cao sang!
Verse 27
ﮈﮉﮊﮋ
ﮌ
Biết bao ân huệ mà chúng đã từng hưởng thụ!
Verse 28
ﮍﮎﮏﮐﮑ
ﮒ
Như thế đó, TA đã làm cho đám người khác thừa hưởng chúng.
Verse 29
Trời đất chẳng khóc thương cho chúng, và chúng cũng không được tạm tha.
Verse 30
Quả thật, TA đã giải cứu con cháu Israel thoát khỏi một sự trừng phạt nhục nhã,
Verse 31
Từ Pha-ra-ông. Quả thật, hắn là tên ngạo mạn trong số những kẻ ác đức và tàn bạo.
Verse 32
ﮭﮮﮯﮰﮱﯓ
ﯔ
Quả thật TA đã chọn (con cháu Israel và ban cho chúng) kiến thức trội hơn thiên hạ.
Verse 33
TA đã ban cho chúng những đặc ân mà trong đó là một sự thử thách rõ rệt.
Verse 34
ﯝﯞﯟ
ﯠ
Quả thật, (những kẻ đa thần) này đã nói:
Verse 35
“Quả thật, chỉ có cái chết đầu tiên của chúng ta mà thôi và không có chuyện chúng ta được dựng sống lại.”
Verse 36
ﯪﯫﯬﯭﯮ
ﯯ
“Thế, các ngươi (hỡi Muhammad và những ai đi theo Ngươi) hãy mang ông bà tổ tiên của bọn ta đến đây xem nào nếu các ngươi nói thật!”
Verse 37
Phải chăng chúng tốt hơn đám dân của Tubba’ và những ai sống trước chúng hay sao?! TA đã tiêu diệt bọn chúng bởi vì bọn chúng là những kẻ tội lỗi.
Verse 38
TA đã không tạo hóa các tầng trời và trái đất cũng như mọi vật giữa chúng để vui chơi một cách vô nghĩa.
Verse 39
TA đã tạo ra (trời đất và vạn vật giữa chúng) là vì Chân Lý. Tuy nhiên, đa số bọn chúng không biết đấy thôi.
Verse 40
ﭑﭒﭓﭔﭕ
ﭖ
Thật vậy, Ngày Phân Loại là thời điểm đã được ấn định cho tất cả bọn chúng.
Verse 41
Ngày mà người thân thích này không giúp ích được gì cho người thân thích khác và chúng sẽ không được ai giúp đỡ.
Verse 42
Trừ những ai được Allah thương xót bởi vì Ngài là Đấng Toàn Năng, Đấng Nhân Từ.
Verse 43
ﭫﭬﭭ
ﭮ
Quả thật, cây Zaqqum, (một loại cây mọc lên từ đáy của Hỏa Ngục)
Verse 44
ﭯﭰ
ﭱ
Sẽ là thức ăn của những kẻ tội lỗi.
Verse 45
ﭲﭳﭴﭵ
ﭶ
(Trái của nó) giống như loại dầu đen sịt, sôi sục trong bụng,
Verse 46
ﭷﭸ
ﭹ
Như nước sôi.
Verse 47
ﭺﭻﭼﭽﭾ
ﭿ
(Có tiếng bảo các Thiên Thần thực thi hình phạt): “Hãy túm bắt hắn lôi vào giữa đám lửa cháy bùng”
Verse 48
“Rồi đổ lên đầu hắn hình phạt của nước sôi.”
Verse 49
ﮈﮉﮊﮋﮌ
ﮍ
“Và hãy nhục mạ: ‘Hãy nếm đi, (trước kia) ngươi uy quyền và cao quý lắm kia mà!”
Verse 50
ﮎﮏﮐﮑﮒﮓ
ﮔ
“Quả thật, (sự trừng phạt) này là điều mà các ngươi đã luôn hoài nghi.”
Verse 51
ﮕﮖﮗﮘﮙ
ﮚ
Riêng những người ngoan đạo chắc chắn sẽ ở một nơi an toàn (Thiên Đàng).
Verse 52
ﮛﮜﮝ
ﮞ
Giữa những ngôi vườn và các dòng suối.
Verse 53
ﮟﮠﮡﮢﮣ
ﮤ
Họ sẽ mặc (y phục bằng) lụa mịn và gấm thêu, họ ngồi đối mặt nhau.
Verse 54
ﮥﮦﮧﮨ
ﮩ
Tương tự như thế, TA sẽ cho họ kết hôn với các tiên nữ có đôi mắt to (tuyệt đẹp).
Verse 55
ﮪﮫﮬﮭﮮ
ﮯ
Trong (Thiên Đàng), họ tự do gọi đủ loại hoa quả an toàn để dùng.
Verse 56
Họ sẽ không nếm trải cái chết ở đó ngoại trừ cái chết đầu tiên (ở trần gian); và (Allah) sẽ bảo vệ họ khỏi sự trừng phạt của Hỏa Ngục.
Verse 57
(Đó là) hồng phúc từ Thượng Đế của Ngươi. Đó là thành tựu vĩ đại.
Verse 58
ﯦﯧﯨﯩﯪ
ﯫ
Quả thật, TA đã làm cho (Qur’an) dễ (hiểu) bằng chính ngôn ngữ của Ngươi (Thiên Sứ) để chúng có thể ghi nhớ.
Verse 59
ﯬﯭﯮ
ﯯ
Thôi! Ngươi hãy chờ đợi (sự thắng lợi của Ngươi và sự bị hủy diệt của chúng); quả thật chúng cũng chờ đợi (như Ngươi).
تقدم القراءة