Bản dịch Surah الصافات bằng الفيتنامية từ الترجمة الفيتنامية - مركز رواد الترجمة
Verse 1
ﭑﭒ
ﭓ
Thề bởi các Thiên Thần đứng thành hàng chỉnh tề (trong thờ phượng Allah).
Verse 2
ﭔﭕ
ﭖ
Thề bởi các Thiên Thần di chuyển các đám mây mưa (theo ý chỉ của Allah).
Verse 3
ﭗﭘ
ﭙ
Thề bởi các Thiên Thần đọc Lời Nhắc nhở (Lời phán của Allah).
Verse 4
ﭚﭛﭜ
ﭝ
Thượng Đế của các ngươi thực sự chỉ có một Đấng duy nhất.
Verse 5
(Đó là) Thượng Đế của các tầng trời, trái đất và vạn vật giữa trời đất và là Thượng Đế của các hướng (mặt trời mọc) ở phía Đông.
Verse 6
ﭦﭧﭨﭩﭪﭫ
ﭬ
Quả thật! TA (Allah) đã làm đẹp tầng trời hạ giới bằng các vì sao.
Verse 7
ﭭﭮﭯﭰﭱ
ﭲ
Và (TA dùng các vì sao để) bảo vệ (tầng trời hạ giới) khỏi từng tên Shaytan phản nghịch.
Verse 8
(Những tên Shaytan muốn nghe trộm) sẽ không nghe được hội nghị trên cao và chúng sẽ bị ném từ mọi phía.
Verse 9
ﭽﭾﭿﮀﮁ
ﮂ
Chúng bị đuổi đi xa. Và (vào Ngày Sau) chúng sẽ bị trừng phạt đời đời kiếp kiếp.
Verse 10
Trừ tên nào nhanh nhẹn chụp lấy được (tin tức từ cuộc nói chuyện của các Thiên Thần) rồi chạy đi thì sẽ bị rượt đuổi bằng một hòn lửa sáng rực.
Verse 11
Ngươi (Thiên Sứ) hãy hỏi (những kẻ thờ đa thần phủ nhận sự Phục Sinh) phải chăng họ khó tạo hay ai khác mà TA đã tạo khó hơn. Quả thật, TA đã tạo họ từ một loại đất sét nhão, dính.
Verse 12
ﮙﮚﮛ
ﮜ
Không, Ngươi đã ngạc nhiên trước những gì họ chế giễu (trong việc phủ nhận sự Phục Sinh).
Verse 13
ﮝﮞﮟﮠ
ﮡ
Khi được nhắc nhở thì họ không lưu tâm.
Verse 14
ﮢﮣﮤﮥ
ﮦ
Khi họ thấy một dấu lạ nào đó (từ Thiên Sứ) thì họ mang nó ra giễu cợt.
Verse 15
ﮧﮨﮩﮪﮫﮬ
ﮭ
Họ nói: “Đấy rõ ràng chỉ là trò ảo thuật!”
Verse 16
“Lẽ nào khi chúng tôi chết đi và đã biến thành đất bụi và xương tàn rồi chúng tôi thực sự được dựng sống lại?!”
Verse 17
ﯗﯘ
ﯙ
“Kể cả tổ tiên xa xưa của chúng tôi, (họ cũng sẽ được cho sống lại sao)?”
Verse 18
ﯚﯛﯜﯝ
ﯞ
Ngươi (hỡi Thiên Sứ) hãy nói (với họ): “Vâng, đúng vậy. Và các ngươi sẽ bị hạ nhục.”
Verse 19
Quả thật, chỉ một tiếng Gầm duy nhất thì lúc đó (tất cả) họ sẽ ngóng nhìn (những gì diễn ra của Ngày Phán Xét).
Verse 20
ﯧﯨﯩﯪﯫ
ﯬ
Họ sẽ nói: “Thật khốn khổ thay cho chúng ta, đây đúng thật là Ngày Phán Xét Cuối Cùng!”
Verse 21
(Rồi có tiếng bảo họ): “Đây chính là Ngày Phân Loại mà các ngươi đã từng phủ nhận.”
Verse 22
“Hãy tập trung những kẻ làm điều sai quấy cùng với bạn đồng hành của chúng và cả những vật mà chúng đã thờ phượng,”
Verse 23
“Thay vì Allah. bởi thế các ngươi hãy đưa chúng đến con đường tới Hỏa Ngục.”
Verse 24
ﰆﰇﰈﰉ
ﰊ
“Nhưng các ngươi hãy bắt chúng dừng lại bởi chúng còn phải bị tra hỏi.”
Verse 25
ﭑﭒﭓﭔ
ﭕ
(Rồi có tiếng bảo họ): “Các ngươi có chuyện gì mà sao không chịu giúp đỡ nhau?”
Verse 26
ﭖﭗﭘﭙ
ﭚ
Không (chúng sẽ không làm được gì cho nhau) bởi Ngày đó chúng sẽ phải tự nạp mình (trước sự trừng phạt).
Verse 27
ﭛﭜﭝﭞﭟ
ﭠ
Rồi chúng quay lại trách móc nhau.
Verse 28
ﭡﭢﭣﭤﭥﭦ
ﭧ
Chúng nói (với những kẻ mà chúng đi theo): “Quả thật, các người là những kẻ đã đến gặp chúng tôi từ bên phải.”
Verse 29
ﭨﭩﭪﭫﭬ
ﭭ
(Những kẻ mà chúng đi theo) nói (với chúng): “Không, các người mới là những kẻ không có đức tin.”
Verse 30
“Chúng tôi đâu có quyền bắt các người nghe theo. Tại các người là đám người vượt quá giới hạn mà thôi.”
Verse 31
“Giờ đây Lời Thượng Đế của chúng ta đã chứng thực với chúng ta. Chúng ta đành phải nếm hình phạt (của Ngài) mà thôi.”
Verse 32
ﮂﮃﮄﮅ
ﮆ
“Chúng tôi đã dẫn các người đi lạc và chúng tôi cũng là những kẻ lầm lạc.”
Verse 33
ﮇﮈﮉﮊﮋ
ﮌ
Cho nên, vào Ngày đó chúng sẽ cùng nhau san sẻ hình phạt.
Verse 34
ﮍﮎﮏﮐ
ﮑ
TA (Allah) thực sự sẽ xử trí những kẻ tội lỗi đúng như thế.
Verse 35
Quả thật, khi chúng được nhắc ‘Không có Thượng Đế nào khác ngoài Allah’ thì chúng ngạo mạn (từ chối).
Verse 36
ﮝﮞﮟﮠﮡﮢ
ﮣ
Chúng bảo: “Chẳng lẽ chúng ta lại đi bỏ các thần linh của chúng ta chỉ vì một gã thi sĩ điên khùng ư?”
Verse 37
ﮤﮥﮦﮧﮨ
ﮩ
Không, (Muhammad không phải như các ngươi nói)! Y (đích thực) đã mang Chân Lý đến và xác nhận lại các Thiên Sứ (về những gì mà họ đã mang đến trước đó).
Verse 38
ﮪﮫﮬﮭ
ﮮ
Quả thật, (rồi đây vào Ngày Phán Xét) các ngươi (hỡi những kẻ đa thần) sẽ phải nếm hình phạt đau đớn.
Verse 39
ﮯﮰﮱﯓﯔﯕ
ﯖ
Và các ngươi sẽ bị trừng phạt chỉ bởi những điều (tội lỗi) mà các ngươi đã làm.
Verse 40
ﯗﯘﯙﯚ
ﯛ
Trừ những bề tôi chân thành của Allah.
Verse 41
ﯜﯝﯞﯟ
ﯠ
Họ sẽ có được bổng lộc được biết rõ (nơi Thiên Đàng).
Verse 42
ﯡﯢﯣ
ﯤ
(Trong đó, có đủ) loại trái quả, và họ là những người được ban cho vinh dự.
Verse 43
ﯥﯦﯧ
ﯨ
(Họ sẽ ở) trong những Ngôi Vườn tiện nghi.
Verse 44
ﯩﯪﯫ
ﯬ
Tựa mình trên những chiếc tràng kỷ, mặt đối mặt.
Verse 45
ﯭﯮﯯﯰﯱ
ﯲ
Những cốc rượu được múc từ một con suối sẽ được chuyển vòng quanh họ.
Verse 46
ﯳﯴﯵ
ﯶ
Nó trong vắt, ngon tuyệt, làm cho người uống sảng khoái.
Verse 47
Nó không làm cho họ nhức đầu và choáng váng.
Verse 48
ﯿﰀﰁﰂ
ﰃ
Bên cạnh họ sẽ là những nàng trinh nữ tuyệt đẹp với đôi mắt to trữ tình đầy quyến rũ, chỉ biết ngắm nhìn (chồng của mình).
Verse 49
ﰄﰅﰆ
ﰇ
Họ giống như những quả trứng non được cất giữ kỹ càng.
Verse 50
ﰈﰉﰊﰋﰌ
ﰍ
Họ ngồi hàn huyên chuyện trò (nhắc lại chuyện xưa trên cõi trần).
Verse 51
Một người trong số họ nói: “Quả thật, tôi có một người bạn.”
Verse 52
ﭑﭒﭓﭔ
ﭕ
“Người đó bảo (tôi): Anh thực sự tin (vào sự Phục Sinh) sao?”
Verse 53
“Lẽ nào khi chúng ta chết đi và đã trở thành đất bụi và xương tàn, chúng ta sẽ (được dựng sống lại) để chịu sự thưởng phạt?”
Verse 54
ﭞﭟﭠﭡ
ﭢ
(Người kể) nói (với những người bạn của mình đang nghe): “Các anh hãy (cùng tôi) nhìn xuống xem (người đó hiện đang ở đâu)?”
Verse 55
ﭣﭤﭥﭦﭧ
ﭨ
Thế là y nhìn xuống và thấy người bạn (vô đức tin) của mình đang ở trong Hỏa Ngục.
Verse 56
ﭩﭪﭫﭬﭭ
ﭮ
Y nói: “Thề bởi Allah! Suýt nữa anh đã hủy hoại tôi rồi!”
Verse 57
ﭯﭰﭱﭲﭳﭴ
ﭵ
“Nếu không nhờ hồng ân của Thượng Đế của tôi thì chắc chắn tôi đã là một trong những người bị bắt dẫn đến (Hỏa Ngục).”
Verse 58
ﭶﭷﭸ
ﭹ
“Chúng tôi (cư dân Thiên Đàng) sẽ không còn đối mặt với cái chết nữa?”
Verse 59
ﭺﭻﭼﭽﭾﭿ
ﮀ
“Chỉ có cái chết đầu tiên của chúng tôi mà thôi và chúng tôi sẽ không bị trừng phạt.”
Verse 60
ﮁﮂﮃﮄﮅ
ﮆ
Quả thật, đó là một sự thắng lợi vĩ đại!
Verse 61
ﮇﮈﮉﮊ
ﮋ
Vì (phần thưởng) như thế này nên những người làm việc hãy cố gắng làm tốt.
Verse 62
ﮌﮍﮎﮏﮐﮑ
ﮒ
(Sự thắng lợi) đó tốt hay cây Zaqqum tốt hơn?
Verse 63
ﮓﮔﮕﮖ
ﮗ
Quả thật, TA (Allah) đã tạo ra nó (cây Zaqqum) là để trừng phạt những kẻ làm điều sai quấy.
Verse 64
ﮘﮙﮚﮛﮜﮝ
ﮞ
Quả thật, nó là một loại cây mọc từ dưới đáy của Hỏa Ngục.
Verse 65
ﮟﮠﮡﮢ
ﮣ
Trái của nó trông giống như đầu của Shaytan.
Verse 66
ﮤﮥﮦﮧﮨﮩ
ﮪ
Thật sự, chúng (những kẻ vô đức tin) sẽ ăn nó và nhét nó vào đầy bụng.
Verse 67
(Sau khi chúng nhét đầy bụng với trái Zaqqum), chúng sẽ được cho uống từ một loại nước cực sôi.
Verse 68
ﯔﯕﯖﯗﯘ
ﯙ
Rồi chúng được đưa trở lại Hỏa Ngục.
Verse 69
ﯚﯛﯜﯝ
ﯞ
Quả thật, chúng thấy cha mẹ của chúng là những kẻ lầm lạc.
Verse 70
ﯟﯠﯡﯢ
ﯣ
Nhưng chúng vẫn ngoan cố đi theo vết xe đổ của họ.
Verse 71
ﯤﯥﯦﯧﯨ
ﯩ
Quả thật đa số người xưa thời trước chúng đã lầm lạc.
Verse 72
ﯪﯫﯬﯭ
ﯮ
Quả thật, TA (Allah) đã gửi đến với họ những vị cảnh báo.
Verse 73
ﯯﯰﯱﯲﯳ
ﯴ
Do đó, Ngươi (hỡi Thiên Sứ) hãy nhìn xem kết cuộc của những kẻ đã được cảnh báo đã bị ra sao.
Verse 74
ﯵﯶﯷﯸ
ﯹ
Trừ các bề tôi chân thành của Allah (mới được thoát khỏi sự trừng phạt của Ngài).
Verse 75
ﯺﯻﯼﯽﯾ
ﯿ
Quả thật, Nuh đã cầu nguyện TA, (TA đã đáp lại lời nguyện cầu của Y) bởi TA là Đấng Đáp Lại Ưu Việt.
Verse 76
ﰀﰁﰂﰃﰄ
ﰅ
TA đã giải cứu Y và gia đình của Y thoát khỏi đại họa (trận đại hồng thủy).
Verse 77
ﭑﭒﭓﭔ
ﭕ
TA đã làm cho dòng dõi của Y sống sót.
Verse 78
ﭖﭗﭘﭙ
ﭚ
TA đã để lại cho Y nơi hậu thế (lời chúc phúc).
Verse 79
ﭛﭜﭝﭞﭟ
ﭠ
(Đó là) lời chúc phúc Bằng An cho Nuh trên thế gian.
Verse 80
ﭡﭢﭣﭤ
ﭥ
Quả thật, TA trọng thưởng những người làm tốt đúng như thế.
Verse 81
ﭦﭧﭨﭩ
ﭪ
Bởi Y đích thực là một trong những bề tôi có đức tin của TA.
Verse 82
ﭫﭬﭭ
ﭮ
Rồi TA đã nhấn chìm đám người (tội lỗi) kia.
Verse 83
ﭯﭰﭱﭲﭳ
ﭴ
Quả thật, Ibrahim đã thực sự thuộc về tôn giáo của Y (Nuh).
Verse 84
ﭵﭶﭷﭸﭹ
ﭺ
Khi (Ibrahim) đến với Thượng Đế của Y bằng một trái tim trong sạch (khỏi vết bẩn của Shirk).
Verse 85
ﭻﭼﭽﭾﭿﮀ
ﮁ
Khi (Ibrahim) nói với phụ thân và người dân của mình: “Các người đang thờ phượng gì thế kia?!”
Verse 86
ﮂﮃﮄﮅﮆ
ﮇ
“Lẽ nào các người muốn thờ phượng các thần linh ngụy tạo thay vì Allah ư?”
Verse 87
ﮈﮉﮊﮋ
ﮌ
“Vậy các người nghĩ sao về Thượng Đế của vũ trụ và vạn vật?”
Verse 88
ﮍﮎﮏﮐ
ﮑ
Rồi (Ibrahim) ngước lên (trời) nhìn các vì sao.
Verse 89
ﮒﮓﮔ
ﮕ
Rồi (Ibrahim) bảo: “Tôi không khỏe (nên không thể đi chơi lễ hội cùng mọi người).”
Verse 90
ﮖﮗﮘ
ﮙ
Thế là mọi người ra đi, bỏ lại (Ibrahim một mình).
Verse 91
ﮚﮛﮜﮝﮞﮟ
ﮠ
Thế là (Ibrahim) đã lén đi gặp các thần linh của họ. Y hỏi chúng: “Sao các ngươi không chịu ăn?”
Verse 92
ﮡﮢﮣﮤ
ﮥ
“Có chuyện gì với các ngươi, sao các ngươi không nói chuyện?”
Verse 93
ﮦﮧﮨﮩ
ﮪ
Rồi Y nhảy thẳng tới đánh bể chúng bằng tay phải.
Verse 94
ﮫﮬﮭ
ﮮ
Sau đó, (người dân) vội vã chạy đến gặp Y.
Verse 95
ﮯﮰﮱﯓ
ﯔ
(Ibrahim) nói: “Lẽ nào các người lại thờ những bức tượng do chính các người nắn tạc ra chúng?”
Verse 96
ﯕﯖﯗﯘ
ﯙ
“Trong khi Allah tạo ra các người và những thứ mà các người làm ra.”
Verse 97
(Người dân của Ibrahim) bảo: “Chúng ta hãy xây cho nó một lò lửa rồi ném nó vào trong lửa đang cháy!”
Verse 98
ﯢﯣﯤﯥﯦ
ﯧ
Họ muốn mưu hại Ibrahim nhưng TA đã làm cho họ thất bại nhục nhã.
Verse 99
ﯨﯩﯪﯫﯬﯭ
ﯮ
(Ibrahim) nói: “Ta sẽ đi gặp Thượng Đế của Ta. Ngài sẽ hướng dẫn ta.”
Verse 100
ﯯﯰﯱﯲﯳ
ﯴ
“Lạy Thượng Đế của bề tôi! Xin Ngài ban cho bề tôi một đứa con đức hạnh.”
Verse 101
ﯵﯶﯷ
ﯸ
Thế là, TA đã ban cho Y tin mừng về một đứa con trai (Isma’il) biết kiên nhẫn chịu đựng.
Verse 102
Đến khi đứa con đến tuổi biết chạy, (Ibrahim) nói (với đứa con của mình): “Này con trai yêu của cha! Cha nằm mộng thấy rằng cha cần phải giết tế con. Thế con nghĩ sao?” Đứa con đáp: “Thưa cha! Cha cứ làm theo lệnh truyền rồi cha sẽ thấy con là một đứa con kiên nhẫn, Insha-Allah.”
Verse 103
ﭑﭒﭓﭔ
ﭕ
Thế rồi, khi hai cha con cùng nạp mình thần phục mệnh lệnh (của Allah), người cha để đứa con nằm nghiêng (chuẩn bị giết tế).
Verse 104
ﭖﭗﭘ
ﭙ
(Ngay lúc đó,) TA (Allah) đã gọi Y: “Này hỡi Ibrahim!”
Verse 105
“Ngươi thực sự đã chứng thực điều trong giấc mộng.” Quả thật! TA ban thưởng cho những người làm tốt như thế.
Verse 106
ﭣﭤﭥﭦﭧ
ﭨ
Quả thật đây quả là một cuộc thử thách công khai cho (Ibrahim).
Verse 107
ﭩﭪﭫ
ﭬ
TA đã chuộc mạng (con trai của Ibrahim) bằng một con vật tế vĩ đại.
Verse 108
ﭭﭮﭯﭰ
ﭱ
TA đã để lại (Ibrahim) nơi hậu thế (lời chúc phúc).
Verse 109
ﭲﭳﭴ
ﭵ
(Đó là) lời chúc phúc Bằng an cho Ibrahim.
Verse 110
ﭶﭷﭸ
ﭹ
TA ban thưởng cho những người làm tốt đúng như thế.
Verse 111
ﭺﭻﭼﭽ
ﭾ
Quả thật, (Ibrahim) là một trong những bề tôi có đức tin của TA.
Verse 112
ﭿﮀﮁﮂﮃ
ﮄ
TA đã mang đến cho Y tin mừng về (đứa con trai) Is-haaq, (sau này sẽ trở thành) một vị Nabi đức hạnh.
Verse 113
TA đã ban phúc cho Y và Is-haaq, tuy nhiên, trong con cháu của hai người họ có một số làm tốt và có một số đã công khai bất công với bản thân mình.
Verse 114
ﮑﮒﮓﮔﮕ
ﮖ
Quả thật, TA đã ban ân cho Musa và Harun (với sứ mạng Nabi).
Verse 115
ﮗﮘﮙﮚﮛ
ﮜ
TA đã giải cứu hai người họ và đám dân của họ (Israel) thoát khỏi đại họa (sự đuổi cùng giết tận của Pha-ra-ông).
Verse 116
ﮝﮞﮟﮠ
ﮡ
TA đã trợ giúp hai người họ giành lấy chiến thắng.
Verse 117
ﮢﮣﮤ
ﮥ
TA đã ban cho hai người họ một Kinh Sách sáng tỏ (Kinh Tawrah - Cựu Ước).
Verse 118
ﮦﮧﮨ
ﮩ
TA đã hướng dẫn hai người họ con đường Ngay Thẳng (dẫn đến sự hài lòng của TA).
Verse 119
ﮪﮫﮬﮭ
ﮮ
TA đã để lại hai người họ nơi hậu thế (lời chúc phúc).
Verse 120
ﮯﮰﮱﯓ
ﯔ
(Đó là) lời chúc bằng an cho Musa và Harun.
Verse 121
ﯕﯖﯗﯘ
ﯙ
TA thực sự ban thưởng cho những người làm tốt đúng như thế.
Verse 122
ﯚﯛﯜﯝ
ﯞ
Quả thật hai người họ thuộc những bề tôi có đức tin của TA.
Verse 123
ﯟﯠﯡﯢ
ﯣ
Và Ilyas (Elias) đích thực là một trong các vị Thiên Sứ (của Allah).
Verse 124
ﯤﯥﯦﯧﯨ
ﯩ
Khi Y bảo người dân của Y: “Các người không sợ Allah sao?”
Verse 125
ﯪﯫﯬﯭﯮ
ﯯ
“Lẽ nào các người cầu nguyện Ba'la (thần linh bục tượng) và bỏ rơi Đấng Tạo Hóa Ưu Việt?!”
Verse 126
ﯰﯱﯲﯳﯴ
ﯵ
“Allah là Thượng Đế của các người và cũng là Thượng Đế của tổ tiên xa xưa của các ngươi.”
Verse 127
ﭑﭒﭓ
ﭔ
Nhưng (đám dân của Ilyas) đã phủ nhận Y. Cho nên, họ sẽ phải bị dẫn đến (chỗ trừng phạt).
Verse 128
ﭕﭖﭗﭘ
ﭙ
Trừ các bề tôi chân thành của Allah.
Verse 129
ﭚﭛﭜﭝ
ﭞ
TA đã để lại Y nơi hậu thế (lời chúc phúc).
Verse 130
ﭟﭠﭡﭢ
ﭣ
(Đó là) lời chúc Bằng an cho Ilyas.
Verse 131
ﭤﭥﭦﭧ
ﭨ
TA thực sự ban thưởng cho những người làm tốt đúng như thế.
Verse 132
ﭩﭪﭫﭬ
ﭭ
(Ilyas) đích thực là một những bề tôi có đức tin của TA.
Verse 133
ﭮﭯﭰﭱ
ﭲ
Và Lut đích thực là một trong các vị Sứ Giả (của Allah).
Verse 134
ﭳﭴﭵﭶ
ﭷ
Khi TA giải cứu (Lut) và toàn bộ gia đình của Y.
Verse 135
ﭸﭹﭺﭻ
ﭼ
Trừ vợ của Y (là kẻ vô đức tin), nữ ta sẽ ở cùng đám người bị trừng phạt.
Verse 136
ﭽﭾﭿ
ﮀ
Sau đó, TA đã hủy diệt đám người còn lại.-
Verse 137
ﮁﮂﮃﮄ
ﮅ
Quả thật, các ngươi (hỡi dân Makkah) thường đi ngang qua (chỗ của) họ vào buổi sáng,
Verse 138
ﮆﮇﮈﮉ
ﮊ
Và ban đêm. Nhưng sao các ngươi không chịu suy ngẫm?
Verse 139
ﮋﮌﮍﮎ
ﮏ
Và Yunus đích thực là một trong các vị Sứ Giả (của Allah).
Verse 140
ﮐﮑﮒﮓﮔ
ﮕ
Khi (Yunus) bỏ chạy đến một chiếc tàu chở đầy (người và đồ đạc).
Verse 141
ﮖﮗﮘﮙ
ﮚ
(Yunus) đã rút thăm và Y đã thua cuộc.(1)
____________________
(1) Con tàu chở đầy người và đồ đạc quá nhiều gần như muốn chìm mỗi khi có những con sống va vào. Họ đã ném bỏ đồ đạc xuống biển nhưng vẫn không ăn thua. Thế là mọi người trên tàu thống nhất với nhau cần phải hy sinh một người trong những người trên con tàu để cứu lấy con tàu và những người khác. Để công bằng, họ dùng hình thức rút thăm, ai rút thăm có tên mình thì người đó phải nhảy xuống biển. Nabi Yunus đã rút trúng thăm có tên mình và Người đành phải gieo mình xuống biển. Từ trong biển xanh, Allah đã gửi đến một con cá voi khổng lồ, Ngài phán bảo nó rằng chớ ăn thịt của Nabi Yunus và cũng chớ làm tổn thương đến xương cốt của Người, Người không phải là lộc ăn của nó mà Người chỉ tạm thời bị giam trong bụng của nó mà thôi. Vậy là khi Nabi Yunus vừa gieo mình xuống biển thì liền bị con cá voi khổng lồ đó nuốt gọn vào bụng của nó. (Theo Tafseer Ibnu Katheer)
____________________
(1) Con tàu chở đầy người và đồ đạc quá nhiều gần như muốn chìm mỗi khi có những con sống va vào. Họ đã ném bỏ đồ đạc xuống biển nhưng vẫn không ăn thua. Thế là mọi người trên tàu thống nhất với nhau cần phải hy sinh một người trong những người trên con tàu để cứu lấy con tàu và những người khác. Để công bằng, họ dùng hình thức rút thăm, ai rút thăm có tên mình thì người đó phải nhảy xuống biển. Nabi Yunus đã rút trúng thăm có tên mình và Người đành phải gieo mình xuống biển. Từ trong biển xanh, Allah đã gửi đến một con cá voi khổng lồ, Ngài phán bảo nó rằng chớ ăn thịt của Nabi Yunus và cũng chớ làm tổn thương đến xương cốt của Người, Người không phải là lộc ăn của nó mà Người chỉ tạm thời bị giam trong bụng của nó mà thôi. Vậy là khi Nabi Yunus vừa gieo mình xuống biển thì liền bị con cá voi khổng lồ đó nuốt gọn vào bụng của nó. (Theo Tafseer Ibnu Katheer)
Verse 142
ﮛﮜﮝﮞ
ﮟ
Rồi một con cá đã nuốt chửng Y vì Y đã phạm một điều đáng trách.(2)
____________________
(2) Xem câu 87 chương 21 – Al-Ambiya’.
____________________
(2) Xem câu 87 chương 21 – Al-Ambiya’.
Verse 143
ﮠﮡﮢﮣﮤ
ﮥ
Nếu như (Yunus) không phải là người (biết ăn năn sám hối và) tán dương Allah,
Verse 144
ﮦﮧﮨﮩﮪﮫ
ﮬ
Thì Y đã phải ở trong bụng của (con cá) cho đến ngày Phục Sinh.
Verse 145
ﮭﮮﮯﮰﮱ
ﯓ
Rồi TA đã cho (Yunus) ra khỏi bụng con cá và dạt vào một bờ biển hoang trong tình trạng yếu ớt.
Verse 146
ﯔﯕﯖﯗﯘ
ﯙ
TA đã cho một loại cây thuộc họ bầu (bí) mọc bao phủ thân người Y.
Verse 147
ﯚﯛﯜﯝﯞﯟ
ﯠ
(Sau đó) TA đã cử Y đến với một trăm ngàn người dân hoặc nhiều hơn.
Verse 148
ﯡﯢﯣﯤ
ﯥ
(Đám dân đó), họ đã có đức tin nên TA đã cho họ hưởng lạc (sống trên thế gian) đến một thời gian (ấn định).
Verse 149
ﯦﯧﯨﯩﯪ
ﯫ
Ngươi (Thiên Sứ) hãy hỏi (những kẻ thờ đa thần) phải chăng con gái thuộc về Thượng Đế của Ngươi còn con trai là của họ?
Verse 150
ﯬﯭﯮﯯﯰﯱ
ﯲ
Hoặc phải chăng họ đã tận mắt chứng kiến việc TA đã tạo hóa các Thiên Thần đều là giống cái?
Verse 151
ﯳﯴﯵﯶﯷ
ﯸ
Họ quả thật đã nói dối khi bảo:
Verse 152
ﯹﯺﯻﯼ
ﯽ
“Allah đã sinh con.” Họ đúng thực là những kẻ nói dối (phạm thượng).
Verse 153
ﯾﯿﰀﰁ
ﰂ
Lẽ nào Ngài chọn con gái hơn con trai?
Verse 154
ﭑﭒﭓﭔ
ﭕ
Các ngươi phân xử sao thế?
Verse 155
ﭖﭗ
ﭘ
Lẽ nào các ngươi không nhớ (các ngươi đã sai thế nào) hay sao?
Verse 156
ﭙﭚﭛﭜ
ﭝ
Hoặc lẽ nào các ngươi có đủ thẩm quyền rõ ràng chăng?
Verse 157
ﭞﭟﭠﭡﭢ
ﭣ
Nếu các ngươi nói thật thì các ngươi hãy mang kinh sách của các ngươi đến xem nào?
Verse 158
(Những kẻ thờ đa thần) đã bịa đặt mối quan hệ thân thuộc giữa Ngài và loài Jinn trong lúc loài Jinn biết rõ việc chúng sẽ phải trình diện Ngài.
Verse 159
ﭰﭱﭲﭳ
ﭴ
Quang Vinh và trong sạch thay Allah, (sự tối cao và siêu việt của Ngài vượt hẳn) những điều mà họ mô tả về Ngài!
Verse 160
ﭵﭶﭷﭸ
ﭹ
Trừ các bề tôi chân thành của Allah.
Verse 161
ﭺﭻﭼ
ﭽ
Các ngươi (những kẻ thờ đa thần) và những thứ mà các ngươi thờ phượng.
Verse 162
ﭾﭿﮀﮁ
ﮂ
Các ngươi không thể quyến dụ được ai (lệch khỏi tôn giáo chân lý).
Verse 163
ﮃﮄﮅﮆﮇ
ﮈ
Ngoại trừ những ai muốn đi vào Hỏa Ngục.
Verse 164
ﮉﮊﮋﮌﮍﮎ
ﮏ
(Các Thiên Thần nói): “Không ai trong chúng tôi lại không có một vị trí được ấn định (trong thờ phượng Allah và tuân lệnh Ngài).”
Verse 165
ﮐﮑﮒ
ﮓ
“Quả thật, chúng tôi đứng thành hàng.”
Verse 166
ﮔﮕﮖ
ﮗ
“Và quả thật, chúng tôi luôn tán dương Ngài.”
Verse 167
ﮘﮙﮚ
ﮛ
Và dù (những kẻ thờ đa thần ở Makkah) đã thường nói:
Verse 168
ﮜﮝﮞﮟﮠﮡ
ﮢ
“Phải chi chúng tôi có được một Lời Nhắc Nhở (những kinh sách chẳng hạn như Kinh Tawrah) từ những người thời trước,”
Verse 169
ﮣﮤﮥﮦ
ﮧ
“Thì quả thật chúng tôi đã là những bề tôi chân thành của Allah rồi.”
Verse 170
ﮨﮩﮪﮫﮬ
ﮭ
(Và khi Kinh Qur’an được mang đến) thì họ phủ nhận Nó, rồi đây họ sẽ sớm biết (hình phạt đang đợi họ ở Ngày Phán Xét)!
Verse 171
ﮮﮯﮰﮱﯓ
ﯔ
Quả thật, Lời Phán của TA đã được phán cho các bề tôi của TA, họ là các vị Sứ Giả.
Verse 172
ﯕﯖﯗ
ﯘ
Quả thật, họ là những người được trợ giúp (từ nơi TA).
Verse 173
ﯙﯚﯛﯜ
ﯝ
Quả thật, quân binh của TA luôn giành chiến thắng.
Verse 174
ﯞﯟﯠﯡ
ﯢ
Do đó, Ngươi (Thiên Sứ) hãy bỏ mặc họ cho tới khi thời hạn (đã đến).
Verse 175
ﯣﯤﯥ
ﯦ
Và chờ xem (sự trừng phạt dành cho họ), rồi đây họ sẽ sớm thấy (sự trừng phạt đó)!
Verse 176
ﯧﯨ
ﯩ
Có phải họ hối thúc sự trừng phạt của TA?
Verse 177
ﯪﯫﯬﯭﯮﯯ
ﯰ
Nhưng khi (sự trừng phạt của TA) rơi xuống sân nhà của họ thì buổi sáng sẽ là hoàn cảnh thê thảm cho những kẻ đã được báo trước.
Verse 178
ﯱﯲﯳﯴ
ﯵ
Cho nên, Ngươi (hỡi Thiên Sứ) hãy bỏ mặc họ cho tới khi thời hạn (đã đến).
Verse 179
ﯶﯷﯸ
ﯹ
Và chờ xem (sự trừng phạt dành cho họ), rồi đây họ sẽ sớm thấy (sự trừng phạt đó)!
Verse 180
ﯺﯻﯼﯽﯾﯿ
ﰀ
Quang Vinh và tối cao thay Thượng Đế của Ngươi! Thượng Đế của Quyền Lực! Ngài siêu việt vượt xa những điều mà họ đã mô tả (về Ngài).
Verse 181
ﰁﰂﰃ
ﰄ
Sự Bằng an dành cho các vị Sứ Giả (vinh dự của Allah)!
Verse 182
ﰅﰆﰇﰈ
ﰉ
Alhamdulillah, Đấng Chủ Tể của vũ trụ và vạn vật.
تقدم القراءة