Bản dịch Surah الصافات bằng الفيتنامية từ الترجمة الفيتنامية
Verse 1
ﭑﭒ
ﭓ
(Thề) bởi những (Thiên Thần) đứng sắp hàng chỉnh tề.
Verse 2
ﭔﭕ
ﭖ
Những (Thiên Thần kéo đưa (mây) đi (một cách khéo léo).
Verse 3
ﭗﭘ
ﭙ
Những (Thiên Thần) tuyên đọc Lời Nhắc nhở (Qur'an).
Verse 4
ﭚﭛﭜ
ﭝ
Thật sự Thượng Đế của các ngươi là Một (Duy nhất).
Verse 5
Thượng Đế của các tầng trời và trái đất và của vạn vật giữa trời đất và là Thượng Đế của những điểm của mặt trời mọc (ở phía Đông).
Verse 6
ﭦﭧﭨﭩﭪﭫ
ﭬ
Quả thật! TA đã trang hoàng tầng trời hạ giới với các vì sao.
Verse 7
ﭭﭮﭯﭰﭱ
ﭲ
Và canh giữ nó xa khỏi từng tên Shaytan phản nghịch.
Verse 8
Chúng không nghe trộm được hội nghị trên cao và bị đánh đuổi từ khắp nơi.
Verse 9
ﭽﭾﭿﮀﮁ
ﮂ
Chúng bị tống đi xa. Và chúng sẽ vĩnh viễn bị trừng phạt.
Verse 10
Ngoại trừ tên nào lén giật (tin tức) và bị đánh bằng một lửa ngọn đỏ.
Verse 11
Hãy hỏi họ phải chăng họ khó tạo hay là ai khác mà TA đã tạo (khó hơn)? Quả thật, TA đã tạo họ từ một loại đất sét nhão, dính.
Verse 12
ﮙﮚﮛ
ﮜ
Không, Ngươi ngạc nhiên về việc họ chế giễu.
Verse 13
ﮝﮞﮟﮠ
ﮡ
Và khi được nhắc nhở, họ không lưu tâm;
Verse 14
ﮢﮣﮤﮥ
ﮦ
Và khi thấy một dấu hiệu họ mang nó ra bỡn cợt;
Verse 15
ﮧﮨﮩﮪﮫﮬ
ﮭ
Và bảo: “(Qur'an) này chỉ là trò ảo thuật hiển hiện!"
Verse 16
"Khi chúng tôi chết và thành đất bụi và xương khô, chúng tôi sẽ được phục sinh trở lại hay sao?"
Verse 17
ﯗﯘ
ﯙ
“Kể cả tổ tiên xa xaa của chúng tôi nữa ư?”
Verse 18
ﯚﯛﯜﯝ
ﯞ
Hãy bảo họ: “Vâng, đúng thế. Và các ngươi sẽ bị hạ nhục.”
Verse 19
Do đó, chỉ cần một tiếng gầm duy nhất thì lúc đó họ sẽ thấy.
Verse 20
ﯧﯨﯩﯪﯫ
ﯬ
Và sẽ than: “Thật khổ thân chúng tôi! Đây là Ngày Xét xử!”
Verse 21
“Đây là Ngày phân loại mà các ngươi đã từng cho là giả tạo.”
Verse 22
(Có lệnh phán): “Hãy tập trung những ai làm điều sai quấy và bạn đồng hành của chúng và những vật mà chúng đã tôn thờ,
Verse 23
không phải Allah, rồi đưa chúng đến con đường dẫn vào hỏa ngục"
Verse 24
ﰆﰇﰈﰉ
ﰊ
“Nhưng hãy bắt chúng dừng lại! Bởi vì chúng phải bị tra hỏi."
Verse 25
ﭑﭒﭓﭔ
ﭕ
“Các ngươi có chuyện gì? Tại sao các ngươi không giúp đỡ lẫn nhau?"
Verse 26
ﭖﭗﭘﭙ
ﭚ
Không, Ngày đó chúng sẽ tự nạp mình (chịu phạt).
Verse 27
ﭛﭜﭝﭞﭟ
ﭠ
Chúng sẽ quay lại hỏi nhau.
Verse 28
ﭡﭢﭣﭤﭥﭦ
ﭧ
Chúng bảo: “Rõ các anh là những người đã đến gặp chúng tôi bên phải.”
Verse 29
ﭨﭩﭪﭫﭬ
ﭭ
“Không, các anh mới là những người không có đức tin."
Verse 30
“Chúng tôi đâu có quyền bắt các anh nghe theo. Không, các anh mới là đám người bất tuân."
Verse 31
“Bởi thế, Lời (phán) của Thượng Đế của chúng tôi xác nhận đúng đối với chúng tôi. Chúng tôi buộc phải nếm (hình phạt thôi)."
Verse 32
ﮂﮃﮄﮅ
ﮆ
“Do đó, chúng tôi đã dắt các anh đi lạc; và chúng tôi cũng lầm lạc.”
Verse 33
ﮇﮈﮉﮊﮋ
ﮌ
Bởi thế, vào Ngày đó chúng sẽ cùng nhau san sẻ hình phạt.
Verse 34
ﮍﮎﮏﮐ
ﮑ
Quả thật, TA sẽ xử lý những kẻ tội lỗi đúng như thế.
Verse 35
Quả thật chúng là những kẻ, khi được nhắc: ‘Không có Thượng Đế nào khác duy chỉ Allah (là Thượng Đế)' thì đã tỏ ra ngạo mạn.
Verse 36
ﮝﮞﮟﮠﮡﮢ
ﮣ
Và chúng bảo: “Sao! chúng tôi phải bỏ các thần linh của chúng tôi chỉ vì một tên thi sĩ mất trí (Muhammad) hay sao?”
Verse 37
ﮤﮥﮦﮧﮨ
ﮩ
Không! Y (Muhammad) mang Chân Lý đến để xác nhận lại các Sứ Giả.
Verse 38
ﮪﮫﮬﮭ
ﮮ
Rõ thật, các ngươi sẽ phải nếm hình phạt đau đớn;
Verse 39
ﮯﮰﮱﯓﯔﯕ
ﯖ
Và sẽ bị trừng phạt chỉ bởi những điều mà các ngươi đã làm;
Verse 40
ﯗﯘﯙﯚ
ﯛ
Ngoại trừ các bầy tôi chân thành (trong sạch) của Allah.
Verse 41
ﯜﯝﯞﯟ
ﯠ
Họ là những người sẽ hưởng bổng lộc được biết rõ:
Verse 42
ﯡﯢﯣ
ﯤ
Trái cây (hoa quả); và họ sẽ được vinh dự,
Verse 43
ﯥﯦﯧ
ﯨ
Trong những Ngôi vườn hạnh phúc (của thiên đàng),
Verse 44
ﯩﯪﯫ
ﯬ
(Nằm nghỉ) đối diện trên những chiếc tràng kỷ cao,
Verse 45
ﯭﯮﯯﯰﯱ
ﯲ
Một cốc (rượu) sẽ được qhuyển vòng đi cho từng người;
Verse 46
ﯳﯴﯵ
ﯶ
Trong vắt, ngọt lịm, làm cho người uống thích thú,
Verse 47
Không làm cho họ nhức đầu, đau bụng... và choáng váng.
Verse 48
ﯿﰀﰁﰂ
ﰃ
Bên cạnh họ sẽ là những trinh nữ với mắt to xinh đẹp, e-lệ nhìn;
Verse 49
ﰄﰅﰆ
ﰇ
(Làn da mịn) như những quả trứng non được giữ kỹ.
Verse 50
ﰈﰉﰊﰋﰌ
ﰍ
Rồi họ quay sang hỏi nhau;
Verse 51
Một người của họ lên tiếng bảo: "Tôi có một người bạn thân,
Verse 52
ﭑﭒﭓﭔ
ﭕ
“Anh ta thường bảo: 'Phải chăng anh là một người có đức tin;
Verse 53
“Phải chăng sau khi chết và thành cát bụi và xương khô, chúng ta sẽ được (dựng sống lại) để chịu xét xử?”
Verse 54
ﭞﭟﭠﭡ
ﭢ
(Một người của họ) bảo: “Há các anh thử nhìn xuống?”
Verse 55
ﭣﭤﭥﭦﭧ
ﭨ
Anh ta nhìn xuống và thấy mình đang ở trong hỏa ngục.
Verse 56
ﭩﭪﭫﭬﭭ
ﭮ
Anh ta bảo: “Thề bởi Allah! Chút xíu nữa là anh đã hại tôi!
Verse 57
ﭯﭰﭱﭲﭳﭴ
ﭵ
“Nếu không do Ân Huệ của Thượng Đế của tôi thì chắc chắn tôi đã là một trong những người bị đưa đến (hỏa ngục)!"
Verse 58
ﭶﭷﭸ
ﭹ
“Phải chăng chúng ta sẽ không chết nữa?"
Verse 59
ﭺﭻﭼﭽﭾﭿ
ﮀ
“Ngoại trừ cái chết đầu tiên của chúng ta và chúng ta sẽ không bị trừng phạt?”
Verse 60
ﮁﮂﮃﮄﮅ
ﮆ
Chắc chắn, đó là một sự thành tựu lớn lao!
Verse 61
ﮇﮈﮉﮊ
ﮋ
Vì hình ảnh này, những người làm việc hãy cố gắng làm (tốt).
Verse 62
ﮌﮍﮎﮏﮐﮑ
ﮒ
Phải chăng điều (thành tựu) đó tốt hay cây Zaqqum tốt hơn?
Verse 63
ﮓﮔﮕﮖ
ﮗ
Quả thật, TA làm ra nó để trừng phạt những tên làm điều sai quấy.
Verse 64
ﮘﮙﮚﮛﮜﮝ
ﮞ
Đó (Zaqqum) là một loại cây mọc từ dưới đáy của hỏa ngục.
Verse 65
ﮟﮠﮡﮢ
ﮣ
Chồi non của nó giống như đầu của bọn Shaytan.
Verse 66
ﮤﮥﮦﮧﮨﮩ
ﮪ
Thật sự, chúng sẽ ăn nhét nó vào đầy bụng.
Verse 67
Và sẽ được cho uống với một lọai nước sôi.
Verse 68
ﯔﯕﯖﯗﯘ
ﯙ
Rồi chúng sẽ được đưa vào hỏa ngục trở lại.
Verse 69
ﯚﯛﯜﯝ
ﯞ
Quả thật, chúng thấy cha mẹ của chúng lầm lạc;
Verse 70
ﯟﯠﯡﯢ
ﯣ
Nhưng chúng lại ùn ùn chạy theo bước chân của họ!
Verse 71
ﯤﯥﯦﯧﯨ
ﯩ
Và chắc chắn, đa số những người xưa trước chúng cũng đã lầm lạc;
Verse 72
ﯪﯫﯬﯭ
ﯮ
Và quả thật, TA đã cử những người báo trước đến với họ.
Verse 73
ﯯﯰﯱﯲﯳ
ﯴ
Bởi thế, hãy nhìn xem kết cuộc của những kẻ đã được cảnh báo (nhưng làm ngơ) đã xảy ra như thế nào.
Verse 74
ﯵﯶﯷﯸ
ﯹ
Ngoại trừ các bầy tôi chân thành (trong sạch) với Allah.
Verse 75
ﯺﯻﯼﯽﯾ
ﯿ
Quả thật, (khi xưa) Nuh đã cầu nguyện TA. Bởi thế, TA là Đấng Ưu Việt đáp lại lời cầu xin (của Y).
Verse 76
ﰀﰁﰂﰃﰄ
ﰅ
Và TA đã giải cứu Y và gia đình của Y thoát khỏi đại họa
Verse 77
ﭑﭒﭓﭔ
ﭕ
Và TA đã làm cho dòng dõi của Y sống sót.
Verse 78
ﭖﭗﭘﭙ
ﭚ
Và TA đã để lại cho Y nơi hậu thế (lời chúc phúc):
Verse 79
ﭛﭜﭝﭞﭟ
ﭠ
Salam (Sự Bằng an) cho Nuh trong thế gian.
Verse 80
ﭡﭢﭣﭤ
ﭥ
Quả thật, TA đã trọng thưởng những người làm tốt như thế.
Verse 81
ﭦﭧﭨﭩ
ﭪ
Bởi vì rõ thật, Y là một người bề tôi có đức tin của TA.
Verse 82
ﭫﭬﭭ
ﭮ
Rồi, TA nhận chết chìm các tên (tội lỗi) khác.
Verse 83
ﭯﭰﭱﭲﭳ
ﭴ
Và Ibrahim đã thực sự nhập phái (tôn giáo) của Người (Nuh).
Verse 84
ﭵﭶﭷﭸﭹ
ﭺ
Khi Y đến với Thượng Đế của Y với một tấm lòng trong sạch.
Verse 85
ﭻﭼﭽﭾﭿﮀ
ﮁ
Khi Y nói với phụ thân và người dân: “Quí vị tôn thờ gì vậy?"
Verse 86
ﮂﮃﮄﮅﮆ
ﮇ
“Phải chăng là một điều giả tạo việc quí vị muốn (tôn thờ) các thần linh khác thay vì Allah?"
Verse 87
ﮈﮉﮊﮋ
ﮌ
“Thế quí vị nghĩ sao về Đấng Thượng Đế của vũ trụ và muôn loài?”
Verse 88
ﮍﮎﮏﮐ
ﮑ
Rồi Y (Ibrahim) liếc nhìn các vì sao (trên trời).
Verse 89
ﮒﮓﮔ
ﮕ
Rồi bảo: “Người tôi muốn bệnh"
Verse 90
ﮖﮗﮘ
ﮙ
Bởi thế, họ (người dân) ra đi, bỏ Y ở lại.
Verse 91
ﮚﮛﮜﮝﮞﮟ
ﮠ
Rồi Y lén đi gặp các tượng thần của họ. Y hỏi chúng “Các ngươi không ăn (các món cúng trước mặt) hay sao?"
Verse 92
ﮡﮢﮣﮤ
ﮥ
“Các ngươi có chuyện gì vậy? Sao các ngươi không chịu nói?”
Verse 93
ﮦﮧﮨﮩ
ﮪ
Rồi Y nhảy xổ đến đưa tay phải ra đập bể chúng.
Verse 94
ﮫﮬﮭ
ﮮ
Sau đó, họ (người dân) vội vã chạy đến gặp Y.
Verse 95
ﮯﮰﮱﯓ
ﯔ
Y bảo họ: “Quí ông tôn thờ những bức tượng do quí ông tạc ư?"
Verse 96
ﯕﯖﯗﯘ
ﯙ
"Trong lúc Allah tạo ra quí ông và những vật mà quí ông làm.”
Verse 97
Họ bảo :“Hãy xây một tòa nhà cho nó rồi ném vào lửa cháy!”
Verse 98
ﯢﯣﯤﯥﯦ
ﯧ
Họ đã bày mưu hãm hại Y, nhưng TA đã hạ nhục họ.
Verse 99
ﯨﯩﯪﯫﯬﯭ
ﯮ
Và Y bảo: "Ta sẽ đi gặp Thượng Đế của Ta. Ngài sẽ hướng dẫn ta.”
Verse 100
ﯯﯰﯱﯲﯳ
ﯴ
“Lạy Thượng Đế của bề tôi! Xin Ngài ban cho bề tôi một đứa (con) đức hạnh.”
Verse 101
ﯵﯶﯷ
ﯸ
Bởi thế, TA ban cho Y tin mừng về một đứa con trai chịu đựng.
Verse 102
Đến khi đứa trẻ đến tuổi biết chạy cùng với Y, Y bảo đứa con: “Này con yêu dấu! Cha thấy trong mộng việc cha sẽ tế con. Thế con nghĩ sao? (Isma'il) đáp: “Thưa cha! Cha cứ làm theo lệnh truyền. Cha sẽ thấy, nếu Allah muốn, con sẽ là một đứa con kiên nhẫn.”
Verse 103
ﭑﭒﭓﭔ
ﭕ
Thế nên, khi hai cha con cùng nạp mình thần phục (Allah), người cha bắt đứa con quỳ gục đầu xuống đất, (để tế);
Verse 104
ﭖﭗﭘ
ﭙ
Thì TA gọi Y, (phán bảo): “Này hỡi Ibrahim!"
Verse 105
“Nhà ngươi đã hoàn tất điều (thấy) trong mộng.” Quả thật! TA ân thưởng những người làm tốt như thế.
Verse 106
ﭣﭤﭥﭦﭧ
ﭨ
Quả thật, đây là một sự thử thách công khai.
Verse 107
ﭩﭪﭫ
ﭬ
Và TA đã chuộc mạng đứa trẻ (Isma'il) bằng một con vật tế lớn.
Verse 108
ﭭﭮﭯﭰ
ﭱ
Và TA đã để lại cho Y (Ibrahim) nơi hậu thế (Lời chúc phúc):
Verse 109
ﭲﭳﭴ
ﭵ
“Salam (Sự Bằng an) cho Ibrahim.”
Verse 110
ﭶﭷﭸ
ﭹ
TA ân thưởng những người làm tốt như thế.
Verse 111
ﭺﭻﭼﭽ
ﭾ
Quả thật, Y là một người bề tôi có đức tin của TA.
Verse 112
ﭿﮀﮁﮂﮃ
ﮄ
Và TA ban cho Y tin mừng về Is-haaq (sau này trở thành) một Nabi trong số những người đức hạnh.
Verse 113
Và TA đã ban phúc cho Y và Is-haaq nhưng trong con cháu của hai người (Ibrahim và Is-haaq) có một số làm tốt và có một số đã công khai tự hại bản thân mình.
Verse 114
ﮑﮒﮓﮔﮕ
ﮖ
Và quả thật, TA đã ban ân cho Musa và Harun.
Verse 115
ﮗﮘﮙﮚﮛ
ﮜ
Và đã giải cứu hai người và người dân của hai người thoát khỏi đại họa;
Verse 116
ﮝﮞﮟﮠ
ﮡ
Và đã trợ giúp hai người chiến thắng;
Verse 117
ﮢﮣﮤ
ﮥ
Và đã ban cho hai người một Kinh Sách sáng tỏ;
Verse 118
ﮦﮧﮨ
ﮩ
Và đã hướng dẫn hai người theo Chính Đạo;
Verse 119
ﮪﮫﮬﮭ
ﮮ
Và TA đã để lại cho hai người nơi hậu thế (Lời chúc phúc):
Verse 120
ﮯﮰﮱﯓ
ﯔ
Salam (Bằng an) cho Musa và Harun!”
Verse 121
ﯕﯖﯗﯘ
ﯙ
Quả thật, TA ân thưởng những người làm tốt như thế.
Verse 122
ﯚﯛﯜﯝ
ﯞ
Quả thật, hai người là bề tôi có đức tin của TA.
Verse 123
ﯟﯠﯡﯢ
ﯣ
Và quả thật, Ilyas (Elias) là một trong các Sứ Giả (của Allah).
Verse 124
ﯤﯥﯦﯧﯨ
ﯩ
Khi Y bảo người dân của Y: “Các người không sợ Allah ư?"
Verse 125
ﯪﯫﯬﯭﯮ
ﯯ
“Phải chăng các người cầu nguyện Ba'l và bỏ rơi Đấng Tạo Hóa Ưu việt?"
Verse 126
ﯰﯱﯲﯳﯴ
ﯵ
“Allah, Thượng Đế của các người và của tổ tiên xa xưa của các người ư?”
Verse 127
ﭑﭒﭓ
ﭔ
Nhưng họ phủ nhận Y. Bởi thế, họ sẽ bị dẫn đến (Lửa)."
Verse 128
ﭕﭖﭗﭘ
ﭙ
Ngoại trừ bầy tôi thành tâm (trong sạch) của Allah.
Verse 129
ﭚﭛﭜﭝ
ﭞ
Và TA đã để lại cho Y nơi hậu thế (Lời chúc phúc):
Verse 130
ﭟﭠﭡﭢ
ﭣ
Salam (Sự Bằng an) cho Ilyas (Elias)!”
Verse 131
ﭤﭥﭦﭧ
ﭨ
Quả thật, TA ân thưởng những người làm tốt như thế.
Verse 132
ﭩﭪﭫﭬ
ﭭ
Quả thật, Y là một người bề tôi có đức tin của TA.
Verse 133
ﭮﭯﭰﭱ
ﭲ
Và quả thật, Lut (Lốt) là một trong các Sứ Giả (của Allah).
Verse 134
ﭳﭴﭵﭶ
ﭷ
Khi TA giải cứu Y và gia đình của Y, tất cả.
Verse 135
ﭸﭹﭺﭻ
ﭼ
Ngoại trừ một bà lão (vợ của Lut) trong số người ở lại đằng sau.
Verse 136
ﭽﭾﭿ
ﮀ
Rồi TA đã tiêu diệt số người còn lại.
Verse 137
ﮁﮂﮃﮄ
ﮅ
Và quả thật, các ngươi đi ngang qua (chỗ của) họ vào buổi sáng;
Verse 138
ﮆﮇﮈﮉ
ﮊ
Và ban đêm. Thế các ngươi không hiểu hay sao?
Verse 139
ﮋﮌﮍﮎ
ﮏ
Và quả thật, Yunus là một trong các Sứ Giả (của Allah).
Verse 140
ﮐﮑﮒﮓﮔ
ﮕ
Khi Y bỏ chạy đến một chiếc tàu chở đầy người.
Verse 141
ﮖﮗﮘﮙ
ﮚ
Y chịu rút thăm và Y thua cuộc.
Verse 142
ﮛﮜﮝﮞ
ﮟ
Do đó, một con cá lớn đã nuốt Y vào bụng bởi vì Y đã phạm một điều đáng trách.
Verse 143
ﮠﮡﮢﮣﮤ
ﮥ
Nếu không là người (biết ăn năn sám hối và) tán dương Allah,
Verse 144
ﮦﮧﮨﮩﮪﮫ
ﮬ
Thì Y đã phải ở trong bụng cá cho đến Ngày phục sinh.
Verse 145
ﮭﮮﮯﮰﮱ
ﯓ
Nhưng TA đã quẳng Y lên một bờ biển trống trải trong lúc Y đang bệnh;
Verse 146
ﯔﯕﯖﯗﯘ
ﯙ
Và TA đã khiến cho cây bầu mọc phủ mình Y.
Verse 147
ﯚﯛﯜﯝﯞﯟ
ﯠ
Và TA cử Y cho một trăm ngàn người dân hoặc nhiều hơn.
Verse 148
ﯡﯢﯣﯤ
ﯥ
Do đó, họ có đức tin. Và TA đã cho họ hưởng lạc một thời gian.
Verse 149
ﯦﯧﯨﯩﯪ
ﯫ
Hãy hỏi họ (những người Quraish thờ đa thần): “Phải chăng con gái thuộc về Thượng Đế của Ngươi, còn con trai là của họ?”
Verse 150
ﯬﯭﯮﯯﯰﯱ
ﯲ
“Hoặc phải chăng họ đã chứng kiến việc TA đã tạo hóa các Thiên Thần thành nữ giới?
Verse 151
ﯳﯴﯵﯶﯷ
ﯸ
Ô này! Rõ thật, họ đã nói dối khi họ nói:
Verse 152
ﯹﯺﯻﯼ
ﯽ
“Allah đã sanh con.” Và quả thật, họ là những kẻ nói dối.
Verse 153
ﯾﯿﰀﰁ
ﰂ
Ngài (Allah) thích con gái hơn con trai ư?
Verse 154
ﭑﭒﭓﭔ
ﭕ
Các ngươi có chuyện gì vậy? Các ngươi xử trí ra sao?
Verse 155
ﭖﭗ
ﭘ
Thế các ngươi không nhớ hay sao?
Verse 156
ﭙﭚﭛﭜ
ﭝ
Hoặc phải chăng các ngươi có đủ thẩm quyền rõ ràng.
Verse 157
ﭞﭟﭠﭡﭢ
ﭣ
Thế, hãy mang Kinh Sách của các ngươi đến nếu các ngươi nói thật!
Verse 158
Và họ bịa đặt mối quan hệ thân thuộc giữa Ngài và loài Jinn trong lúc loài Jinn biết việc chúng sẽ phải trình diện (Allah).
Verse 159
ﭰﭱﭲﭳ
ﭴ
Quang vinh và trong sạch thay Allah về những điều họ đã qui cho Ngài!
Verse 160
ﭵﭶﭷﭸ
ﭹ
Ngoại trừ các bầy tôi thành tâm (trong sạch) của Allah.
Verse 161
ﭺﭻﭼ
ﭽ
Và các ngươi và những kẻ (thần linh) mà các ngươi tôn thờ.
Verse 162
ﭾﭿﮀﮁ
ﮂ
Các ngươi không thể quyến dụ được ai (có đức tin) chống lại Ngài,
Verse 163
ﮃﮄﮅﮆﮇ
ﮈ
Ngoại trừ ai muốn đi vào Lửa cháy (của hỏa ngục).
Verse 164
ﮉﮊﮋﮌﮍﮎ
ﮏ
(Các Thiên Thần nói:) Không ai trong chúng tôi lại không có một vị trí ấn định;
Verse 165
ﮐﮑﮒ
ﮓ
Quả thật, chúng tôi đứng thành hàng.
Verse 166
ﮔﮕﮖ
ﮗ
Và quả thật, chúng tôi tán dương Ngài.
Verse 167
ﮘﮙﮚ
ﮛ
Và họ (những người Ả Rập ngoại đạo) thường nói:
Verse 168
ﮜﮝﮞﮟﮠﮡ
ﮢ
“Giá có được một Lời Nhắc nhở từ tổ tiên của chúng tôi,
Verse 169
ﮣﮤﮥﮦ
ﮧ
"Thì chắc chắn chúng tôi đã trở thành các bầy tôi chân thành của Allah.”
Verse 170
ﮨﮩﮪﮫﮬ
ﮭ
(Nay đã có Qur'an), nhưng họ phủ nhận nó; rồi họ sẽ sớm biết!
Verse 171
ﮮﮯﮰﮱﯓ
ﯔ
Và Lời Phán của TA đã được phán cho các bầy tôi của TA, các Sứ Giả,
Verse 172
ﯕﯖﯗ
ﯘ
Rằng chắc chắn họ sẽ được trợ giúp,
Verse 173
ﯙﯚﯛﯜ
ﯝ
Bằng đoàn thiên binh (Thiên Thần) của TA, và sẽ chiến thắng.
Verse 174
ﯞﯟﯠﯡ
ﯢ
Bởi thế, hãy tạm lánh xa một thời gian.
Verse 175
ﯣﯤﯥ
ﯦ
Và xem họ (xử sự ra sao) và họ sẽ sớm thấy (kết quả)!
Verse 176
ﯧﯨ
ﯩ
Thế, phải chăng họ giục việc trừng phạt của TA chóng đến?
Verse 177
ﯪﯫﯬﯭﯮﯯ
ﯰ
Nhưng khi nó (hình phạt) đáp xuống sân nhà của họ thì buổi sáng sẽ là điều thê thảm cho những người đã được báo trước.
Verse 178
ﯱﯲﯳﯴ
ﯵ
Bởi thế, hãy lánh xa họ một thời gian ngắn,
Verse 179
ﯶﯷﯸ
ﯹ
Và xem họ (xử sự ra sao); rồi họ sẽ sớm thấy (kết quả)!
Verse 180
ﯺﯻﯼﯽﯾﯿ
ﰀ
Quang vinh thay Thượng Đế của Ngươi, Thượng Đế của Danh dự và Quyền lực! Ngài vô tội về những điều mà họ đã qui cho Ngài.
Verse 181
ﰁﰂﰃ
ﰄ
Và Salam (Sự Bằng an) cho các vị Sứ Giả!
Verse 182
ﰅﰆﰇﰈ
ﰉ
Và mọi lời ca tụng đều dâng lên Allah, Thượng Đế của vũ trụ và muôn loài.
تقدم القراءة