سورة الصافات

الترجمة الفيتنامية

Bản dịch Surah الصافات bằng الفيتنامية từ الترجمة الفيتنامية

الترجمة الفيتنامية

الناشر

مجمع الملك فهد

Verse 1
(Thề) bởi những (Thiên Thần) đứng sắp hàng chỉnh tề.
Verse 2
Những (Thiên Thần kéo đưa (mây) đi (một cách khéo léo).
Verse 3
Những (Thiên Thần) tuyên đọc Lời Nhắc nhở (Qur'an).
Verse 4
Thật sự Thượng Đế của các ngươi là Một (Duy nhất).
Thượng Đế của các tầng trời và trái đất và của vạn vật giữa trời đất và là Thượng Đế của những điểm của mặt trời mọc (ở phía Đông).
Chúng bị tống đi xa. Và chúng sẽ vĩnh viễn bị trừng phạt.
Ngoại trừ tên nào lén giật (tin tức) và bị đánh bằng một lửa ngọn đỏ.
Hãy hỏi họ phải chăng họ khó tạo hay là ai khác mà TA đã tạo (khó hơn)? Quả thật, TA đã tạo họ từ một loại đất sét nhão, dính.
Verse 12
Không, Ngươi ngạc nhiên về việc họ chế giễu.
Verse 14
Và khi thấy một dấu hiệu họ mang nó ra bỡn cợt;
"Khi chúng tôi chết và thành đất bụi và xương khô, chúng tôi sẽ được phục sinh trở lại hay sao?"
Verse 17
“Kể cả tổ tiên xa xaa của chúng tôi nữa ư?”
Verse 18
Hãy bảo họ: “Vâng, đúng thế. Và các ngươi sẽ bị hạ nhục.”
Và sẽ than: “Thật khổ thân chúng tôi! Đây là Ngày Xét xử!”
(Có lệnh phán): “Hãy tập trung những ai làm điều sai quấy và bạn đồng hành của chúng và những vật mà chúng đã tôn thờ,
Verse 24
“Nhưng hãy bắt chúng dừng lại! Bởi vì chúng phải bị tra hỏi."
Verse 25
“Các ngươi có chuyện gì? Tại sao các ngươi không giúp đỡ lẫn nhau?"
Verse 26
Không, Ngày đó chúng sẽ tự nạp mình (chịu phạt).
Chúng bảo: “Rõ các anh là những người đã đến gặp chúng tôi bên phải.”
“Không, các anh mới là những người không có đức tin."
“Bởi thế, Lời (phán) của Thượng Đế của chúng tôi xác nhận đúng đối với chúng tôi. Chúng tôi buộc phải nếm (hình phạt thôi)."
Verse 32
“Do đó, chúng tôi đã dắt các anh đi lạc; và chúng tôi cũng lầm lạc.”
Bởi thế, vào Ngày đó chúng sẽ cùng nhau san sẻ hình phạt.
Verse 34
Quả thật, TA sẽ xử lý những kẻ tội lỗi đúng như thế.
Quả thật chúng là những kẻ, khi được nhắc: ‘Không có Thượng Đế nào khác duy chỉ Allah (là Thượng Đế)' thì đã tỏ ra ngạo mạn.
Và chúng bảo: “Sao! chúng tôi phải bỏ các thần linh của chúng tôi chỉ vì một tên thi sĩ mất trí (Muhammad) hay sao?”
Không! Y (Muhammad) mang Chân Lý đến để xác nhận lại các Sứ Giả.
Verse 38
Rõ thật, các ngươi sẽ phải nếm hình phạt đau đớn;
Và sẽ bị trừng phạt chỉ bởi những điều mà các ngươi đã làm;
Verse 40
Ngoại trừ các bầy tôi chân thành (trong sạch) của Allah.
Verse 41
Họ là những người sẽ hưởng bổng lộc được biết rõ:
Verse 42
Trái cây (hoa quả); và họ sẽ được vinh dự,
Verse 43
Trong những Ngôi vườn hạnh phúc (của thiên đàng),
Verse 44
(Nằm nghỉ) đối diện trên những chiếc tràng kỷ cao,
Một cốc (rượu) sẽ được qhuyển vòng đi cho từng người;
Verse 46
Trong vắt, ngọt lịm, làm cho người uống thích thú,
Verse 48
Bên cạnh họ sẽ là những trinh nữ với mắt to xinh đẹp, e-lệ nhìn;
Verse 49
(Làn da mịn) như những quả trứng non được giữ kỹ.
Verse 52
“Anh ta thường bảo: 'Phải chăng anh là một người có đức tin;
“Phải chăng sau khi chết và thành cát bụi và xương khô, chúng ta sẽ được (dựng sống lại) để chịu xét xử?”
Verse 54
(Một người của họ) bảo: “Há các anh thử nhìn xuống?”
Anh ta bảo: “Thề bởi Allah! Chút xíu nữa là anh đã hại tôi!
“Nếu không do Ân Huệ của Thượng Đế của tôi thì chắc chắn tôi đã là một trong những người bị đưa đến (hỏa ngục)!"
Verse 58
“Phải chăng chúng ta sẽ không chết nữa?"
“Ngoại trừ cái chết đầu tiên của chúng ta và chúng ta sẽ không bị trừng phạt?”
Verse 61
Vì hình ảnh này, những người làm việc hãy cố gắng làm (tốt).
Verse 63
Quả thật, TA làm ra nó để trừng phạt những tên làm điều sai quấy.
Verse 65
Chồi non của nó giống như đầu của bọn Shaytan.
Verse 69
Quả thật, chúng thấy cha mẹ của chúng lầm lạc;
Verse 70
Nhưng chúng lại ùn ùn chạy theo bước chân của họ!
Và chắc chắn, đa số những người xưa trước chúng cũng đã lầm lạc;
Verse 72
Và quả thật, TA đã cử những người báo trước đến với họ.
Bởi thế, hãy nhìn xem kết cuộc của những kẻ đã được cảnh báo (nhưng làm ngơ) đã xảy ra như thế nào.
Verse 74
Ngoại trừ các bầy tôi chân thành (trong sạch) với Allah.
Quả thật, (khi xưa) Nuh đã cầu nguyện TA. Bởi thế, TA là Đấng Ưu Việt đáp lại lời cầu xin (của Y).
Và TA đã giải cứu Y và gia đình của Y thoát khỏi đại họa
Verse 78
Và TA đã để lại cho Y nơi hậu thế (lời chúc phúc):
Verse 80
Quả thật, TA đã trọng thưởng những người làm tốt như thế.
Verse 81
Bởi vì rõ thật, Y là một người bề tôi có đức tin của TA.
Verse 82
Rồi, TA nhận chết chìm các tên (tội lỗi) khác.
Và Ibrahim đã thực sự nhập phái (tôn giáo) của Người (Nuh).
Khi Y đến với Thượng Đế của Y với một tấm lòng trong sạch.
Khi Y nói với phụ thân và người dân: “Quí vị tôn thờ gì vậy?"
“Phải chăng là một điều giả tạo việc quí vị muốn (tôn thờ) các thần linh khác thay vì Allah?"
Verse 87
“Thế quí vị nghĩ sao về Đấng Thượng Đế của vũ trụ và muôn loài?”
Verse 88
Rồi Y (Ibrahim) liếc nhìn các vì sao (trên trời).
Verse 90
Bởi thế, họ (người dân) ra đi, bỏ Y ở lại.
Rồi Y lén đi gặp các tượng thần của họ. Y hỏi chúng “Các ngươi không ăn (các món cúng trước mặt) hay sao?"
Verse 92
“Các ngươi có chuyện gì vậy? Sao các ngươi không chịu nói?”
Verse 93
Rồi Y nhảy xổ đến đưa tay phải ra đập bể chúng.
Verse 94
Sau đó, họ (người dân) vội vã chạy đến gặp Y.
Verse 95
Y bảo họ: “Quí ông tôn thờ những bức tượng do quí ông tạc ư?"
Verse 96
"Trong lúc Allah tạo ra quí ông và những vật mà quí ông làm.”
Và Y bảo: "Ta sẽ đi gặp Thượng Đế của Ta. Ngài sẽ hướng dẫn ta.”
Verse 100
“Lạy Thượng Đế của bề tôi! Xin Ngài ban cho bề tôi một đứa (con) đức hạnh.”
Verse 101
Bởi thế, TA ban cho Y tin mừng về một đứa con trai chịu đựng.
Verse 103
Thế nên, khi hai cha con cùng nạp mình thần phục (Allah), người cha bắt đứa con quỳ gục đầu xuống đất, (để tế);
Verse 104
Thì TA gọi Y, (phán bảo): “Này hỡi Ibrahim!"
“Nhà ngươi đã hoàn tất điều (thấy) trong mộng.” Quả thật! TA ân thưởng những người làm tốt như thế.
Verse 107
Và TA đã chuộc mạng đứa trẻ (Isma'il) bằng một con vật tế lớn.
Verse 108
Và TA đã để lại cho Y (Ibrahim) nơi hậu thế (Lời chúc phúc):
Verse 110
TA ân thưởng những người làm tốt như thế.
Verse 111
Quả thật, Y là một người bề tôi có đức tin của TA.
Verse 112
Và TA ban cho Y tin mừng về Is-haaq (sau này trở thành) một Nabi trong số những người đức hạnh.
Và TA đã ban phúc cho Y và Is-haaq nhưng trong con cháu của hai người (Ibrahim và Is-haaq) có một số làm tốt và có một số đã công khai tự hại bản thân mình.
Verse 115
Và đã giải cứu hai người và người dân của hai người thoát khỏi đại họa;
Verse 117
Và đã ban cho hai người một Kinh Sách sáng tỏ;
Verse 118
Và đã hướng dẫn hai người theo Chính Đạo;
Verse 119
Và TA đã để lại cho hai người nơi hậu thế (Lời chúc phúc):
Verse 121
Quả thật, TA ân thưởng những người làm tốt như thế.
Verse 122
Quả thật, hai người là bề tôi có đức tin của TA.
Verse 123
Và quả thật, Ilyas (Elias) là một trong các Sứ Giả (của Allah).
Verse 124
Khi Y bảo người dân của Y: “Các người không sợ Allah ư?"
Verse 125
“Phải chăng các người cầu nguyện Ba'l và bỏ rơi Đấng Tạo Hóa Ưu việt?"
Verse 126
“Allah, Thượng Đế của các người và của tổ tiên xa xưa của các người ư?”
Verse 127
Nhưng họ phủ nhận Y. Bởi thế, họ sẽ bị dẫn đến (Lửa)."
Verse 128
Ngoại trừ bầy tôi thành tâm (trong sạch) của Allah.
Verse 129
Và TA đã để lại cho Y nơi hậu thế (Lời chúc phúc):
Verse 131
Quả thật, TA ân thưởng những người làm tốt như thế.
Verse 132
Quả thật, Y là một người bề tôi có đức tin của TA.
Verse 133
Và quả thật, Lut (Lốt) là một trong các Sứ Giả (của Allah).
Verse 134
Khi TA giải cứu Y và gia đình của Y, tất cả.
Verse 135
Ngoại trừ một bà lão (vợ của Lut) trong số người ở lại đằng sau.
Verse 136
Rồi TA đã tiêu diệt số người còn lại.
Verse 137
Và quả thật, các ngươi đi ngang qua (chỗ của) họ vào buổi sáng;
Verse 139
Và quả thật, Yunus là một trong các Sứ Giả (của Allah).
Verse 142
Do đó, một con cá lớn đã nuốt Y vào bụng bởi vì Y đã phạm một điều đáng trách.
Verse 143
Nếu không là người (biết ăn năn sám hối và) tán dương Allah,
Verse 145
Nhưng TA đã quẳng Y lên một bờ biển trống trải trong lúc Y đang bệnh;
Verse 148
Do đó, họ có đức tin. Và TA đã cho họ hưởng lạc một thời gian.
Verse 149
Hãy hỏi họ (những người Quraish thờ đa thần): “Phải chăng con gái thuộc về Thượng Đế của Ngươi, còn con trai là của họ?”
“Hoặc phải chăng họ đã chứng kiến việc TA đã tạo hóa các Thiên Thần thành nữ giới?
Verse 152
“Allah đã sanh con.” Và quả thật, họ là những kẻ nói dối.
Verse 154
Các ngươi có chuyện gì vậy? Các ngươi xử trí ra sao?
Verse 155
Thế các ngươi không nhớ hay sao?
Verse 156
Hoặc phải chăng các ngươi có đủ thẩm quyền rõ ràng.
Verse 157
Thế, hãy mang Kinh Sách của các ngươi đến nếu các ngươi nói thật!
Và họ bịa đặt mối quan hệ thân thuộc giữa Ngài và loài Jinn trong lúc loài Jinn biết việc chúng sẽ phải trình diện (Allah).
Verse 159
Quang vinh và trong sạch thay Allah về những điều họ đã qui cho Ngài!
Verse 160
Ngoại trừ các bầy tôi thành tâm (trong sạch) của Allah.
Verse 161
Và các ngươi và những kẻ (thần linh) mà các ngươi tôn thờ.
Verse 162
Các ngươi không thể quyến dụ được ai (có đức tin) chống lại Ngài,
(Các Thiên Thần nói:) Không ai trong chúng tôi lại không có một vị trí ấn định;
Verse 165
Quả thật, chúng tôi đứng thành hàng.
Verse 166
Và quả thật, chúng tôi tán dương Ngài.
Verse 167
Và họ (những người Ả Rập ngoại đạo) thường nói:
Verse 169
"Thì chắc chắn chúng tôi đã trở thành các bầy tôi chân thành của Allah.”
Verse 170
(Nay đã có Qur'an), nhưng họ phủ nhận nó; rồi họ sẽ sớm biết!
Verse 171
Và Lời Phán của TA đã được phán cho các bầy tôi của TA, các Sứ Giả,
Verse 172
Rằng chắc chắn họ sẽ được trợ giúp,
Verse 173
Bằng đoàn thiên binh (Thiên Thần) của TA, và sẽ chiến thắng.
Verse 175
Và xem họ (xử sự ra sao) và họ sẽ sớm thấy (kết quả)!
Verse 176
Thế, phải chăng họ giục việc trừng phạt của TA chóng đến?
Nhưng khi nó (hình phạt) đáp xuống sân nhà của họ thì buổi sáng sẽ là điều thê thảm cho những người đã được báo trước.
Verse 178
Bởi thế, hãy lánh xa họ một thời gian ngắn,
Verse 179
Và xem họ (xử sự ra sao); rồi họ sẽ sớm thấy (kết quả)!
Quang vinh thay Thượng Đế của Ngươi, Thượng Đế của Danh dự và Quyền lực! Ngài vô tội về những điều mà họ đã qui cho Ngài.
Verse 181
Và Salam (Sự Bằng an) cho các vị Sứ Giả!
Verse 182
Và mọi lời ca tụng đều dâng lên Allah, Thượng Đế của vũ trụ và muôn loài.
تقدم القراءة