سورة المدثر

الترجمة الفيتنامية

Bản dịch Surah المدّثر bằng الفيتنامية từ الترجمة الفيتنامية

الترجمة الفيتنامية

الناشر

مجمع الملك فهد

Verse 1
Hỡi người đắp chăn (Nabi Muhammad)!
Verse 2
Hãy đứng lên và cảnh báo (dân chúng)!
Verse 3
Và hãy vĩ đại hóa Thượng Đế (Allah) của Ngươi.
Verse 4
Và hãy giữ y-phục của Ngươi sạch sẽ!
Verse 6
Và khi làm ơn (cho người) chớ mong (người) trả ơn;
Verse 7
Và vì Thượng Đế của Ngươi hãy kiên nhẫn;
Verse 10
Không mấy thoải mái cho những kẻ không có đức tin;
Verse 11
Hãy để mặc TA với kẻ mà TA đã tạo ra cô đơn;
Verse 12
Và TA đã làm cho y có được của cải dồi dào (giàu có).
Verse 13
Và con cái đầy đàn bên cạnh.
Nhất định không! Quả thật, y là kẻ chống đối các Dấu Hiệu của TA.
Verse 17
TA sẽ làm cho y khốn đốn như trèo núi dốc đứng.
Verse 19
Bởi thế, y chỉ thiệt thân! Y mưu đồ làm sao!
Thế rồi y bảo: “Điều này chẳng qua là trò ảo thuật có từ xưa.”
“Rõ thật (Qur'an) này chỉ là Lời nói của một người phàm.”
Verse 26
TA sẽ sớm quẳng y vào Lửa của hỏa ngục.
Verse 27
Và điều gì sẽ cho Ngươi biết Lửa của hỏa ngục là gì?
Verse 28
Nó không dung tha cũng không bỏ sót (một tên sai quấy và tội lỗi nào).
Verse 29
Nó đốt cháy và lột hết các lớp da.
Verse 30
Trên nó có mười chín (vị Thiên Thần giữ ngục).
Và TA đã không chỉ định ai ngoài Thiên Thần làm những người canh gác hỏa ngục. Và TA ấn định con số (19) của chúng như một sự thử thách cho những ai không có đức tin và để thuyết phục những ai đã được ban cấp Kinh Sách và cũng để tăng cường đức tin cho những người tin tưởng; và để cho những người được ban cho Kinh Sách cũng như những người tín tưởng không còn có gì để ngờ vực cả; và để cho những kẻ mang trong lòng một chứng bệnh và những kẻ không có đức tin có dịp nói: “Allah định nói gì qua thí dụ so sánh này.” Allah đánh lạc hướng kẻ nào Ngài muốn và hướng dẫn người nào Ngài muốn như thế; và không ai biết rõ lực lượng của Thượng Đế của Ngươi ngoại trừ Ngài. Và Nó là Lời Nhắc Nhở cho người phàm.
Verse 36
Một sự cảnh báo cho người phàm;
Mỗi người (linh hồn) sẽ là một cam kết cho những điều mà nó đã làm.
Verse 39
Ngoại trừ những người Bạn của phía Tay Phải
Verse 42
“Điều gì đã đưa các anh vào Lửa của hỏa ngục vậy?”
Chúng sẽ đáp: “Chúng tôi là những ngươi không năng dâng lễ nguyện Salah."
Verse 44
"Và chúng tôi là những người thường không nuôi ăn người nghèo."
Verse 45
"Và chúng tôi thường nói chuyện vô bổ với những người hay chuyện vãn tầm phào."
Verse 46
"Và chúng tôi thường phủ nhận Ngày Phán xử."
Verse 47
"Cho tới khi chúng tôi gặp điều kiên định (cái chết)”.
Verse 48
Bởi thế, không một sự can thiệp nào của những người can thiệp có thể giúp ích chúng được.
Bởi thế, lý do gì đã khiến chúng quay lánh xa Lời cảnh báo?
Verse 54
Vô phương! Quả thật Nó (Qur'an) là Lời cảnh báo;
Verse 55
Bởi thế, người nào muốn thì hãy (đọc và) cảnh giác;
تقدم القراءة