Bản dịch Surah النجم bằng الفيتنامية từ الترجمة الفيتنامية
Verse 1
ﭑﭒﭓ
ﭔ
Thề bởi ngôi sao khi nó đi xuống (lặn);
Verse 2
ﭕﭖﭗﭘﭙ
ﭚ
Người Bạn của các ngươi không lạc hướng cũng không nhầm lẫn.
Verse 3
ﭛﭜﭝﭞ
ﭟ
Và Y không nói theo sở thích.
Verse 4
ﭠﭡﭢﭣﭤ
ﭥ
Quả thật, Nó (Qur'an) chỉ là điều mặc khải đã được mặc khải.
Verse 5
ﭦﭧﭨ
ﭩ
Y được một vị (Thiên Thần Jibril) rất quyền lực dạy cho.
Verse 6
ﭪﭫﭬ
ﭭ
(Một Vị) toàn vẹn về mọi mặt; rồi Y đi lên.
Verse 7
ﭮﭯﭰ
ﭱ
Và Y (Jibril) xuất hiện trên phần cao nhất của chân trời;
Verse 8
ﭲﭳﭴ
ﭵ
Rồi Y tiến đến gần;
Verse 9
ﭶﭷﭸﭹﭺ
ﭻ
Xa bằng khoảng cách của hai cây cung hoặc gần hơn;
Verse 10
ﭼﭽﭾﭿﮀ
ﮁ
Bằng cách đó, Ngài đã mặc khải cho người bề tôi điều mà Ngài muốn.
Verse 11
ﮂﮃﮄﮅﮆ
ﮇ
Tấm lòng (của Muhammad) không dối trá về điều mà Y đã thấy.
Verse 12
ﮈﮉﮊﮋ
ﮌ
Thế các người muốn tranh cãi với Y về điều mà Y đã thấy ư?
Verse 13
ﮍﮎﮏﮐ
ﮑ
Và quả thật Y đã thấy (Jibril) trong lần giáng trần thứ hai.
Verse 14
ﮒﮓﮔ
ﮕ
Gần Cây Bách Hương của biên giới xa thẳm;
Verse 15
ﮖﮗﮘ
ﮙ
Gần nó (Cây Bách Hương) là thiên đàng Cư ngụ;
Verse 16
ﮚﮛﮜﮝﮞ
ﮟ
Khi Cây Bách Hương được bao phủ bởi cái vốn bao phủ (nó);
Verse 17
ﮠﮡﮢﮣﮤ
ﮥ
Mắt nhìn không quay sang cũng không vượt quá tầm mức (giới hạn);
Verse 18
ﮦﮧﮨﮩﮪﮫ
ﮬ
Quả thật, Y đã thấy những Dấu Hiệu lớn nhất của Thượng Đế của Y.
Verse 19
ﮭﮮﮯ
ﮰ
Há các ngươi đã thấy (thần) Al-Lat và (thần) Al-'Uzza,
Verse 20
ﮱﯓﯔ
ﯕ
Và Manãt, (nữ thần) thứ ba hay sao?
Verse 21
ﯖﯗﯘﯙ
ﯚ
Phải chăng nam giới thuộc về các ngươi còn nữ giới thì thuộc về Ngài?
Verse 22
ﯛﯜﯝﯞ
ﯟ
Một sự phân chia như thế thật chẳng công bằng!
Verse 23
Đó chẳng qua là những tên gọi mà các ngươi và cha mẹ của các ngươi đã qui cho chúng chứ Allah đã không ban xuống một thẩm quyền nào. Chúng chỉ tưởng tượng và theo điều mà bản thân của chúng mong muốn trong lúc một Chỉ Đạo từ Thượng Đế của chúng đã đến với chúng.
Verse 24
ﯼﯽﯾﯿ
ﰀ
Hoặc phải chăng con người sẽ được điều mà y mong ước?
Verse 25
ﰁﰂﰃ
ﰄ
Nhưng cái sau cùng và cái trước tiên (đời này) đều là của Allah cả.
Verse 26
Và có bao nhiêu Thiên Thần trong các tầng trời mà sự can thiệp chẳng có kết quả gì trừ phi Allah chấp thuận cho ai mà Ngài muốn và hài lòng?
Verse 27
Quả thật, những ai không có đức tin nơi đời sau đã dùng tên của phái nữ mà đặt cho Thiên Thần.
Verse 28
Trong lúc chúng chẳng có một chút hiểu biết gì về việc đó. Quả thật, chúng chỉ làm theo tưởng tượng. Và điều tưởng tượng chẳng thay thế được Sự Thật.
Verse 29
Do đó, hãy lánh xa kẻ nào làm ngơ trước Lời Nhắc Nhở (Qur'an) của TA và chỉ ham muốn đời sống trần tục này.
Verse 30
Đó là mức hiểu biết mà chúng đã đạt đến. Quả thật, Thượng Đế (Đấng Chủ Tể) của Ngươi là Đấng biết rõ ai đi lạc khỏi con đường của Ngài và ai là người đã được hướng dẫn.
Verse 31
Và mọi vật trong các tầng trời và mọi vật dưới đất đều là của Ngài cả. Mục đích để Ngài trừng phạt những ai phạm tội về những điều mà chúng đã làm và để tưởng thưởng những người làm tốt với cái tốt nhất (thiên đàng).
Verse 32
Những ai tránh được những tội lớn và các tội Al-Fawahish (như thông gian, ngoại tình) ngoại trừ những điều xúc phạm nhỏ nhặt. Quả thật, Thượng Đế của Ngươi với lòng Tha thứ bao la. Ngài biết rõ cac ngươi khi Ngài tạo ra các ngươi từ đất (bụi) và khi các ngươi hãy còn là thai nhi nằm trong bụng mẹ của các ngươi. Bởi thế, chớ tự cho mình trong sạch. Ngài biết rõ ai là người sợ Allah nhất.
Verse 33
ﯢﯣﯤ
ﯥ
Há Ngươi (Muhammad) đã thấy một người quay lưng (bỏ đi),
Verse 34
ﯦﯧﯨ
ﯩ
Hắn cho một ít rồi ngưng tay?
Verse 35
ﯪﯫﯬﯭﯮ
ﯯ
Phải chăng hắn hiểu biết điều vô hình cho nên hắn thấy (tương lai)?
Verse 36
Há hắn đã không được thông báo về những điều ghi trong các tờ Kinh của Musa hay sao?
Verse 37
ﯸﯹﯺ
ﯻ
Và (nơi các tờ Kinh của) Ibrahim, vốn đã hoàn tất nhiệm vụ?
Verse 38
ﯼﯽﯾﯿﰀ
ﰁ
(Các tờ Kinh đó ghi) rằng: không một người chất đầy (tội lỗi) nào lại vác giùm gánh nặng (tội lỗi) của người khác.
Verse 39
ﰂﰃﰄﰅﰆﰇ
ﰈ
Và rằng: con người chỉ lãnh phần mà hắn cố gắng làm ra;
Verse 40
ﰉﰊﰋﰌ
ﰍ
Và rằng: nỗ lực của hắn sẽ sớm được thấy;
Verse 41
ﰎﰏﰐﰑ
ﰒ
Rồi hắn sẽ được tưởng thưởng bằng một phần thưởng trọn vẹn;
Verse 42
ﰓﰔﰕﰖ
ﰗ
Và cuối cùng là sự trở về gặp Thượng Đế của Ngươi (Muhammad).
Verse 43
ﰘﰙﰚﰛ
ﰜ
Và chính Ngài là Đấng làm cho cười và làm cho khóc;
Verse 44
ﰝﰞﰟﰠ
ﰡ
Và chính Ngài là Đấng làm cho sống và gây cho chết.
Verse 45
ﭑﭒﭓﭔﭕ
ﭖ
Và chính Ngài là Đấng tạo ra cặp (đôi), nam và nữ;
Verse 46
ﭗﭘﭙﭚ
ﭛ
Từ tinh dịch khi nó xuất ra;
Verse 47
ﭜﭝﭞﭟ
ﭠ
Và rằng Ngài phục sinh một lần thứ hai;
Verse 48
ﭡﭢﭣﭤ
ﭥ
Và chính Ngài là Đấng ban cho sự giàu sang và làm cho mãn nguyện;
Verse 49
ﭦﭧﭨﭩ
ﭪ
Và chính Ngài là Thượng Đế (Đấng Chủ Tể) của Sao Thiên Lang.
Verse 50
ﭫﭬﭭﭮ
ﭯ
Và chính Ngài là Đấng đã tiêu diệt bộ lạc 'Ad thuở xưa;
Verse 51
ﭰﭱﭲ
ﭳ
Và không bỏ sót (bộ tộc) Thamud.
Verse 52
Và cả người dân của Nuh trước đây bởi vì chúng đã từng bất công và phạm giới quá mức.
Verse 53
ﭿﮀ
ﮁ
Và (Ngài đã tiêu diệt) những thị trấn đổ phế.
Verse 54
ﮂﮃﮄ
ﮅ
Bởi thế, cái (hình phạt) từng bao phủ đã bao phủ chúng.
Verse 55
ﮆﮇﮈﮉ
ﮊ
Thế Ân Huệ nào của Thượng Đế của ngươi mà ngươi hãy còn nghi ngờ?
Verse 56
ﮋﮌﮍﮎﮏ
ﮐ
Đây là một Người báo trước trong loạt người báo trước đã có từ xưa.
Verse 57
ﮑﮒ
ﮓ
(Báo trước) việc sắp đến (Giờ Tận Thế) sẽ đến;
Verse 58
ﮔﮕﮖﮗﮘﮙ
ﮚ
Ngoài Allah ra, không ai có thể chuyển hướng nó được;
Verse 59
ﮛﮜﮝﮞ
ﮟ
Thế các ngươi ngạc nhiên về lời trình bày (Qur'an) này chăng?
Verse 60
ﮠﮡﮢ
ﮣ
Và nhẹ dạ cười đùa chứ không khóc lóc;
Verse 61
ﮤﮥ
ﮦ
Và phí mất thời gian (ham vui);
Verse 62
ﮧﮨﮩﮪ
ﮫ
Thôi hãy quỳ mọp xuống phủ phục Allah và thờ phụng Ngài.
تقدم القراءة