Bản dịch Surah الشعراء bằng الفيتنامية từ الترجمة الفيتنامية
Verse 1
ﭑ
ﭒ
Ta. Sin. Mim.
Verse 2
ﭓﭔﭕﭖ
ﭗ
Đây là những Câu của một Kinh Sách minh bạch.
Verse 3
ﭘﭙﭚﭛﭜﭝ
ﭞ
Có lẽ Ngươi tự huỷ mình vì buồn rầu về việc chúng không tin tưởng.
Verse 4
Nếu muốn, TA có thể gởi từ trên trời xuống một phép lạ mà chúng sẽ cúi cổ xuống thần phục.
Verse 5
Và không một điều nhắc nhở mới nào của Đấng Rất Mực Độ Lượng được ban xuống cho chúng mà chúng lại không quay mặt lánh xa.
Verse 6
Bởi thế, chắc chắn chúng đã phủ nhận Chân Lý; rồi đây chúng sẽ nhận tin tức về những điều mà chúng đã từng chế giễu.
Verse 7
Và há chúng đã không quan sát trái đất, nơi mà TA đã làm mọc ra bao nhiêu cặp cây cối quí hóa hay sao?
Verse 8
trong đó là một dấu hiệu; nhưng đa số bọn chúng không tin.
Verse 9
ﮖﮗﮘﮙﮚ
ﮛ
Và Thượng Đế của Ngươi là Đấng Toàn Năng, Đấng Rất Mực Khoan Dung.
Verse 10
Và (hãy nhớ) khi Thượng Đế của Ngươi gọi Musa (phán bảo): "Nhà ngươi hãy đi gặp một đám người làm điều sai quấy"
Verse 11
ﮥﮦﮧﮨﮩ
ﮪ
“Đám người của Fir-'awn há chúng không sợ Allah hay sao?”
Verse 12
ﮫﮬﮭﮮﮯﮰ
ﮱ
(Musa) thưa: "Lạy Thượng Đế! Bề tôi sợ chúng sẽ cho bề tôi nói dối."
Verse 13
“Và lòng ngực của bề tôi chật hẹp và chiếc lưỡi của bề tôi cử động không nhanh chống. Xin Ngài cho gọi Harun đến (giúp bề tôi)."
Verse 14
ﯜﯝﯞﯟﯠﯡ
ﯢ
“Và chúng buộc tội bề tôi đã phạm một trọng tội; do đó bề tôi sợ chúng sẽ giết bề tôi.”
Verse 15
(Allah) phán: "Không sao cả! Hai ngươi cứ lên đường với những Phép Lạ của TA. TA sẽ ở cùng với các ngươi, lắng nghe."
Verse 16
"Bởi thế, hai ngươi cứ đi gặp Fir-'awn bảo (y): Chúng tôi là Sứ Giả của Thượng Đế của vũ trụ và muôn loài."
Verse 17
ﯵﯶﯷﯸﯹ
ﯺ
“Xin ngài cho phép con cháu của Israel ra đi với chúng tôi.”
Verse 18
(Fir-'awn) bảo (Musa): "Há bọn ta đã không thương yêu và nuôi nấng ngươi như con cái trong (nhà của) bọn ta và ngươi đã ở với bọn ta nhiều năm trong đời ngươi hay sao?"
Verse 19
“Thế mà nhà ngươi đã nhẫn tâm làm một việc (sát nhân) mà ngươi đã làm. Và nhà ngươi là một tên phụ ơn.”
Verse 20
ﭑﭒﭓﭔﭕﭖ
ﭗ
(Musa) đáp: "Tôi làm điều đó vào lúc tôi nhầm lẫn."
Verse 21
"Và vì sợ quí ngài nên tôi đã phải bỏ trốn đi xa và Thượng Đế của tôi đã ban cho tôi lý giải khôn ngoan và cử tôi làm một Sứ Giả của Ngài."
Verse 22
“Đấy là ân xưa mà ngài đã nại ra để khiển trách tôi; và ngài đã bắt con cháu của Israel làm nô lệ.”
Verse 23
ﭭﭮﭯﭰﭱ
ﭲ
Fir-'awn lên tiếng: “Và Thượng Đế của vũ trụ và muôn loài là gì chứ?”
Verse 24
Musa đáp: “Thượng Đế của các tầng trời và trái đất và vạn vật giữa trời đất nếu quí ngài muốn có một niềm tin vững chắc (về Ngài).”
Verse 25
ﭾﭿﮀﮁﮂ
ﮃ
(Fir-'awn) nói với cận thần: “Há các khanh không nghe rõ?”
Verse 26
ﮄﮅﮆﮇﮈ
ﮉ
(Musa) tiếp: “Thượng Đế của quí ngài và của tổ tiên của quí ngài.”
Verse 27
(Fir-'awn) bảo: “Quả thật, Sứ Giả của các ngươi là một thằng điên!”
Verse 28
(Musa) tiếp: “Thượng Đế của phương đông và phương tây và vạn vật nằm giữa hai phương đó, nếu quí vị thông hiểu được.”
Verse 29
(Fir-'awn) bảo: “Nếu nhà ngươi quả quyết tôn thờ một Thượng Đế khác thay vì ta thì chắc chắn ta se bỏ tù nhà ngươi.”
Verse 30
ﮦﮧﮨﮩﮪ
ﮫ
(Musa) đáp: “Sao! Dẫu cho tôi có trưng bày cho ngài thấy một điều minh bạch.”
Verse 31
(Fir-'awn) bảo: “Thế hãy đưa nó (phép lạ) ra xem nếu nhà ngươi là một người nói thật.”
Verse 32
ﯕﯖﯗﯘﯙﯚ
ﯛ
Bởi thế, Musa ném chiếc gậy của Y xuống thì nó biến thành một con rắn rõ rệt.
Verse 33
ﯜﯝﯞﯟﯠﯡ
ﯢ
Và khi đưa bàn tay của Y ra, nó hiện ra trắng toát trước mặt những người đứng nhìn.
Verse 34
Fir-'awn quay bảo các cận thần: "Tên này quả thật là một tên phù thủy tài giỏi."
Verse 35
“Y định dùng pháp thuật để đánh đuổi các khanh ra khỏi lãnh thổ của các khanh. Thế các khanh định làm gì y?”
Verse 36
(Chư thần) thưa: "Hãy tạm tha cho y và người em của y (trong một thời gian) và cử những người loan tin đi khắp các thị trấn."
Verse 37
ﯼﯽﯾﯿ
ﰀ
“Nhờ triệu về cho ngài tất cả những nhà phù thủy tài giỏi.”
Verse 38
ﰁﰂﰃﰄﰅ
ﰆ
Do đó, những nhà phù thủy được triệu tập tại một nơi hẹn vào một ngày đã được công bố rõ.
Verse 39
ﰇﰈﰉﰊﰋ
ﰌ
Và có lời bảo người dân: "Há quí vị không đi dự đại hội hay sao?"
Verse 40
“Có lẽ chúng tôi sẽ theo các nhà phù thủy nếu họ thắng cuộc.”
Verse 41
Bởi thế, khi đến nơi, những nhà phù thủy thưa với Fir-'awn: “Chúng tôi sẽ được ân thưởng chăng nếu chúng tối thắng cuộc?”
Verse 42
ﭦﭧﭨﭩﭪﭫ
ﭬ
(Fir-'awn) đáp: “Vâng, có chứ! Chắc chắn lúc đó các ngươi sẽ là cận thần của ta.”
Verse 43
Musa bảo họ: “Hãy ném bảo vật của quí vị xuống.”
Verse 44
Do đó, họ ném những sợi dây và chiếc gậy của họ xuống và nói: “Nhờ quyền lực của Fir-'awn, chắc chắn chúng tôi sẽ thắng cuộc.”
Verse 45
Nhưng khi Musa ném chiếc gậy của Y xuống, tức thời nó nuốt mất những món vật mà họ đã làm giả.
Verse 46
ﮈﮉﮊ
ﮋ
Bởi thế, những tên phù thủy (khiếp sợ) sụp xuống quỳ lạy.
Verse 47
ﮌﮍﮎﮏ
ﮐ
Và lên tiếng: "Chúng tôi tin tưởng nơi Thượng Đế của vũ trụ và muôn loài."
Verse 48
ﮑﮒﮓ
ﮔ
“Thượng Đế của Musa và của Harun.”
Verse 49
(Fir-'awn) bảo: “Các ngươi cả tin nơi y trước khi ta cho phép các ngươi hay sao? Y quả là tên đầu não của các ngươi; Y đã dạy các ngươi pháp thuật; rồi đây các ngươi sẽ sớm biết hậu quả. Chắc chắn, ta sẽ cho chặt tay và chân của các ngươi mỗi bên một cánh và sẽ cho đóng đinh các ngươi trên thập tự giá, tất cả, không sót một tên nào.”
Verse 50
Họ đồng thanh đáp: “Chẳng có gì thiệt cả. (Bởi vì) chúng tôi sẽ trở về gặp Thượng Đế của chúng tôi trở lại
Verse 51
“Chúng tôi mong Thượng Đế chúng tôi sẽ tha thứ cho chúng tôi những lỗi lầm của chúng tôi bởi vì chúng tôi là những người tin tưởng đầu tiên.”
Verse 52
Và TA đã mặc khải cho Musa phán: “Nhà ngươi hãy dẫn bầy tôi của TA ra đi ban đêm. Thật sự, các ngươi sẽ bị truy nã.”
Verse 53
ﯭﯮﯯﯰﯱ
ﯲ
Bởi thế, Fir-'awn phái những người loan tin đi khắp các thị trấn.
Verse 54
ﯳﯴﯵﯶ
ﯷ
“Quả thật, những người (Israel) này chỉ là một nhóm nhỏ."
Verse 55
ﯸﯹﯺ
ﯻ
"Quả thật, chúng đã phạm tội khi quân chọc giận bọn ta."
Verse 56
ﯼﯽﯾ
ﯿ
“Nhưng tất cả bọn ta đã cảnh giác trước”
Verse 57
ﰀﰁﰂﰃ
ﰄ
Bởi thế, TA đã đưa bọn chúng ra khỏi hoa viên và suối nước,
Verse 58
ﰅﰆﰇ
ﰈ
Và rời khỏi những kho tàng châu báu và địa vị cao sang.
Verse 59
ﰉﰊﰋﰌﰍ
ﰎ
Đúng như thế. Và TA đã cho con cháu của Israel thừa kế chúng.
Verse 60
ﰏﰐ
ﰑ
Rồi chúng đuổi theo bắt họ vào lúc hừng đông.
Verse 61
Bởi thế, khi hai đoàn người đối diện nhau, các tông đồ của Musa nói: “Chắc chắn chúng ta sắp bị truy sát rồi.”
Verse 62
(Musa) bảo: “Không hề gì! Thượng Đế của ta ở với ta, và sẽ hướng dẫn ta.”
Verse 63
Liền đó, TA đã mặc khải cho Musa, phán: “Hãy dùng chiếc gậy của ngươi mà đánh xuống mặt biển!” Tức thời, biền rẽ ra làm hai, biến thành bức thành đứng sừng sững như một quả núi vĩ đại.
Verse 64
ﭱﭲﭳ
ﭴ
Và TA đưa đám (người bị truy nã) kia đến gần nơi đó.
Verse 65
ﭵﭶﭷﭸﭹ
ﭺ
Và TA đã cứu nguy Musa và những ai theo Y, tất cả.
Verse 66
ﭻﭼﭽ
ﭾ
Rồi TA đã nhận đám kia chết chìm.
Verse 67
Quả thật, trong biến cố đó là một bài học; nhưng đa số bọn chúng không là những người tin tưởng.
Verse 68
ﮉﮊﮋﮌﮍ
ﮎ
Và quả thật Thượng Đế (Allah) của Ngươi là Đấng Toàn Năng, Đấng Rất Mực Khoan Dung.
Verse 69
ﮏﮐﮑﮒ
ﮓ
Và hãy đọc cho chúng (người Quraish) câu chuyện của Ibrahim.
Verse 70
ﮔﮕﮖﮗﮘﮙ
ﮚ
Khi Y thưa với phụ thân và người dân của Y: “Vật gì quí vị đang thờ phụng vậy?”
Verse 71
ﮛﮜﮝﮞﮟﮠ
ﮡ
Họ đáp: “Bọn ta đang thờ các tượng thần và rất đỗi sùng kính họ.”
Verse 72
ﮢﮣﮤﮥﮦ
ﮧ
(Ibrahim) bảo: "Chúng có nghe được quí vị chăng khi quí vị gọi chúng?"
Verse 73
ﮨﮩﮪﮫ
ﮬ
“Hoặc chúng có giúp ích hay hãm hại được quí vị chăng?”
Verse 74
ﮭﮮﮯﮰﮱﯓ
ﯔ
Họ đáp: “Không, nhưng bọn ta thấy cha mẹ của bọn ta đã làm thế.”
Verse 75
ﯕﯖﯗﯘﯙ
ﯚ
(Ibrahim) bảo: “Thế quí vị có quan sát đồ vật mà quí vị đang tôn thờ chăng?"
Verse 76
ﯛﯜﯝ
ﯞ
“Quí vị lẫn tổ tiên xa xưa của quí vị?"
Verse 77
ﯟﯠﯡﯢﯣﯤ
ﯥ
“Nhưng, chúng là kẻ thù của tôi ngoại trừ Thượng Đế của vũ trụ và muôn loài."
Verse 78
ﯦﯧﯨﯩ
ﯪ
“Đấng đã tạo ra tôi, rồi hướng dẫn tôi."
Verse 79
ﯫﯬﯭﯮ
ﯯ
“Và là Đấng đã cho tôi ăn và uống."
Verse 80
ﯰﯱﯲﯳ
ﯴ
“Và là Đấng đã chữa lành tôi khi tôi mắc bệnh."
Verse 81
ﯵﯶﯷﯸ
ﯹ
“Và là Đấng sẽ gây cho tôi chết rồi phục sinh tôi trở lại."
Verse 82
“Và là Đấng mà tôi hy vọng sẽ tha thứ cho tôi về những lỗi lầm của tôi vào Ngày Xét xử."
Verse 83
ﰃﰄﰅﰆﰇﰈ
ﰉ
“Lạy Thượng Đế của bề tôi! Xin Ngài ban cho bề tôi thông thái khôn ngoan và dung nạp bề tôi chung với những người đức hạnh."
Verse 84
ﭑﭒﭓﭔﭕﭖ
ﭗ
“Và vinh danh bề tôi nơi những thế hệ tương lai."
Verse 85
ﭘﭙﭚﭛﭜ
ﭝ
“Và biến bề tôi thành một người thừa kế thiên đàng Hạnh phúc."
Verse 86
ﭞﭟﭠﭡﭢﭣ
ﭤ
“Và tha thứ cho phụ thân của bề tồi bởi vì người là một người lầm lạc."
Verse 87
ﭥﭦﭧﭨ
ﭩ
“Và chớ hạ nhục bề tôi vào Ngày mà nhân loại sẽ được phục sinh."
Verse 88
ﭪﭫﭬﭭﭮﭯ
ﭰ
“Ngày mà của cải cũng như con cái sẽ không giúp ích được ai."
Verse 89
ﭱﭲﭳﭴﭵﭶ
ﭷ
Ngoại trừ ai mang đến cho Allah một tấm lòng trong sạch.
Verse 90
ﭸﭹﭺ
ﭻ
Và thiên đàng sẽ được mang đến gần những người sợ Allah.
Verse 91
ﭼﭽﭾ
ﭿ
Và hỏa ngục sẽ được mang đến trước mặt những kẻ lạc lối.
Verse 92
ﮀﮁﮂﮃﮄﮅ
ﮆ
Và có lời bảo chúng: “Đâu là những vật mà các người đã tôn thờ,
Verse 93
“Khác Allah? Há chúng có thể giải cứu các ngươi hoặc tự cứu?”
Verse 94
ﮏﮐﮑﮒ
ﮓ
Bởi thế, chúng sẽ bị lùa vào hỏa ngục, chúng và đám quỉ quái.
Verse 95
ﮔﮕﮖ
ﮗ
Và cả binh tướng của Iblis nữa, tất cả.
Verse 96
ﮘﮙﮚﮛ
ﮜ
Và trong lúc cãi vã nhau trong đó, chúng sẽ nói:
Verse 97
ﮝﮞﮟﮠﮡﮢ
ﮣ
“Thề với Allah, chúng tôi là những kẻ đã công khai lầm lạc."
Verse 98
ﮤﮥﮦﮧ
ﮨ
“Khi chúng tôi suy tôn quí vị ngang vai với Thượng Đế của vũ trụ và muôn loài."
Verse 99
ﮩﮪﮫﮬ
ﮭ
"Và chỉ những tên kẻ tội lỗi đã dắt chúng tôi đi lạc."
Verse 100
ﮮﮯﮰﮱ
ﯓ
“Bởi thế, chúng tôi không có ai can thiệp."
Verse 101
ﯔﯕﯖ
ﯗ
“Cũng không có một người bạn chân tình nào (để giúp đỡ)."
Verse 102
“Giá có dịp trở lại (trần gian) thì chúng tôi sẽ tin tưởng.”
Verse 103
Trong đó là một dấu hiệu, nhưng đa số bọn chúng không tin.
Verse 104
ﯪﯫﯬﯭﯮ
ﯯ
Và Thượng Đế của Ngươi là Đấng Toàn Năng, Đấng Rất Mực Khoan Dung.
Verse 105
ﯰﯱﯲﯳ
ﯴ
Người dần của Nuh đã cho những Sứ Giả (của Allah) nói dối,
Verse 106
Khi người anh em của họ, Nuh, bảo: “Các người không sợ Allah ư?"
Verse 107
ﯽﯾﯿﰀ
ﰁ
“Quả thật, Ta là một Sứ Giả đáng tin cậy đến với các người.
Verse 108
ﰂﰃﰄ
ﰅ
“Bởi thế, hãy sợ Allah và nghe theo Ta."
Verse 109
“Và Ta không đòi hỏi các người tưởng thưởng Ta về nó. Chỉ Thượng Đế của vũ trụ và muôn loài sẽ ân thưởng Ta."
Verse 110
ﰓﰔﰕ
ﰖ
“Do đó, hãy sợ Allah và nghe theo Ta.”
Verse 111
ﰗﰘﰙﰚﰛﰜ
ﰝ
Họ đáp: “Bọn ta phải tin tưởng ngươi hay sao trong lúc chỉ có những kẻ bần cùng đi theo ngươi?”
Verse 112
ﭑﭒﭓﭔﭕﭖ
ﭗ
(Nuh) bảo: “Ta đâu biết điều họ đã từng làm."
Verse 113
“Chỉ Thượng Đế của Ta nắm hồ sơ của họ, nếu các người nhận thấy."
Verse 114
ﭡﭢﭣﭤ
ﭥ
“Và Ta không phải là người xua đuổi những người có đức tin."
Verse 115
ﭦﭧﭨﭩﭪ
ﭫ
“Mà chỉ là một người cảnh cáo công khai.”
Verse 116
Họ nói: “Nếu không chịu ngưng, hỡi Nuh!, bọn ta sẽ ném đá giết ngươi.”
Verse 117
ﭵﭶﭷﭸﭹ
ﭺ
(Nuh), thưa: “Lạy Thượng Đế! Người dân của bề tôi phủ nhận bề tôi."
Verse 118
“Bởi thế, xin Ngài công minh phân xử giữa bề tôi và họ và xin giải cứu bề tôi và ai là người tin tưởng tuân theo bề tôi.”
Verse 119
ﮅﮆﮇﮈﮉﮊ
ﮋ
Do đó, TA đã giải cứu Y và những người theo Y trên một chiếc tàu chở đầy (người và thú vật).
Verse 120
ﮌﮍﮎﮏ
ﮐ
Rồi, TA nhận đám người còn lại chết chìm dưới nước (lụt).
Verse 121
Trong đó là một dấu hiệu nhưng đa số bọn chúng không tin.
Verse 122
ﮛﮜﮝﮞﮟ
ﮠ
Và Thượng Đế của Ngươi là Đấng Toàn Năng, Đấng Rất Mực Khoan Dung.
Verse 123
ﮡﮢﮣ
ﮤ
(Người dân) 'Ad đã cho những Sứ Giả của Allah nói dối.
Verse 124
Khi người anh em của họ, Hud, bảo: “Các người không sợ Allah ư?"
Verse 125
ﮭﮮﮯﮰ
ﮱ
"Ta thực sự là một Sứ Giả đáng tin cậy (đến) với các người."
Verse 126
ﯓﯔﯕ
ﯖ
“Do đó, hãy sợ Allah và nghe theo Ta."
Verse 127
"Ta không đòi hỏi các người tưởng thưởng ta về nó (Thông Điệp của Allah). Thượng Đế của vũ trụ và muôn loài sẽ ân thưởng Ta."
Verse 128
ﯤﯥﯦﯧﯨ
ﯩ
“Phải chăng các người đã xây cất trên mỗi ngọn đồi cao (biệt thự làm) một cảnh giới để khoe khoang?"
Verse 129
ﯪﯫﯬﯭ
ﯮ
“Phải chăng các người đã xây cất những lâu đài kiên cố để mong ở trong đó vĩnh viễn?"
Verse 130
ﯯﯰﯱﯲ
ﯳ
“Và khi các người tước đoạt, các người bóc lột như những bạo chúa."
Verse 131
ﯴﯵﯶ
ﯷ
“Bởi thế, hãy sợ Allah và nghe theo Ta."
Verse 132
ﯸﯹﯺﯻﯼ
ﯽ
“Và hãy sợ Đấng đã trợ giúp các người với những vật mà các người đã từng biết."
Verse 133
ﯾﯿﰀ
ﰁ
“Ngài đã giúp đỡ các người với gia súc và con cái."
Verse 134
ﰂﰃ
ﰄ
“Và hoa viên và suối nước."
Verse 135
ﰅﰆﰇﰈﰉﰊ
ﰋ
"Ta sợ giùm cho các người về sự trừng phạt của một Ngày vĩ đại.”
Verse 136
Họ đáp: “Ông có cảnh cáo hay không cảnh cáo đi nữa, điều đó bằng thừa đối với chúng tôi."
Verse 137
ﭑﭒﭓﭔﭕ
ﭖ
“Công việc này của ông chỉ là một phong cách của người xưa."
Verse 138
ﭗﭘﭙ
ﭚ
“Và chúng tôi sẽ không bị trừng phạt đau đớn.”
Verse 139
Bởi thế, chúng đã cho Y nói dối. Cho nên, TA đã tiêu diệt chúng. Trong đó là một dấu hiệu. Nhưng đa số bọn chúng không tin.
Verse 140
ﭨﭩﭪﭫﭬ
ﭭ
Và Thượng Đế của Ngươi là Đấng Toàn Năng, Đấng Rất Mực Khoan Dung.
Verse 141
ﭮﭯﭰ
ﭱ
Và (người dân) Thamud đã cho những Sứ Giả (của Allah) nói dối.
Verse 142
Khi người anh em của họ, Saleh, bảo: “Các người không sợ Allah ư?"
Verse 143
ﭺﭻﭼﭽ
ﭾ
“Ta là một Sứ Giả đáng tin cậy (đến) với các người."
Verse 144
ﭿﮀﮁ
ﮂ
“Do đó, hãy sợ Allah và nghe theo Ta."
Verse 145
“Ta không đòi hỏi các người tưởng thưởng Ta về nó (Thông Điệp của Allah). Thượng Đế của vũ trụ và muôn loài sẽ ân thưởng Ta."
Verse 146
ﮐﮑﮒﮓﮔ
ﮕ
“Phải chăng các người sẽ được an toàn hưởng thụ những tiện nghi hiện có nơi đây hay sao?"
Verse 147
ﮖﮗﮘ
ﮙ
“Nơi những hoa viên và suối nước?"
Verse 148
ﮚﮛﮜﮝ
ﮞ
“Với những cánh đồng bắp lúa và vườn cây chà là hoa lá mịn màng?"
Verse 149
ﮟﮠﮡﮢﮣ
ﮤ
“Và các người đã khéo tay đục núi xây nhà trong đó."
Verse 150
ﮥﮦﮧ
ﮨ
“Do đó, hãy sợ Allah và nghe theo Ta."
Verse 151
ﮩﮪﮫﮬ
ﮭ
“Và chớ nghe theo mệnh lệnh của những kẻ thái quá."
Verse 152
ﮮﮯﮰﮱﯓﯔ
ﯕ
“Những ai đã làm những điều thối nát trong xứ nhưng không sửa mình.”
Verse 153
ﯖﯗﯘﯙﯚ
ﯛ
Họ đáp: “Ông chỉ là một người bị mê hoặc."
Verse 154
“Ông chỉ là một người phàm như chúng tôi. Thế, hãy mang một Phép Lạ đến cho chúng tôi thấy nếu ông là một người nói thật.”
Verse 155
(Saleh) đáp: “Đây là con lạc đà cái. Nó uống phần nước của nó và các người uống phần nước của các người vào một ngày đã được qui định."
Verse 156
“Và chớ giết nó sợ lằng các người sẽ bị trừng phạt vào một Ngày vĩ đại.”
Verse 157
ﯺﯻﯼ
ﯽ
Nhưng chúng đã cắt nhượng nó và sau đó đâm ra hối hận.
Verse 158
Do đó, chúng đã bị trừng phạt. Trong đó là một dấu hiệu. Nhưng đa số bọn chung không tin tưởng.
Verse 159
ﰋﰌﰍﰎﰏ
ﰐ
Và Thượng Đế của Ngươi là Đấng Toàn Năng, Đấng Rất Mực Khoan Dung.
Verse 160
ﭑﭒﭓﭔ
ﭕ
Người dân của Lut cũng đã cho những Sứ Giả nói dối.
Verse 161
Khi người anh em của họ, Lut, bảo: “Các người không sợ Allah ư?"
Verse 162
ﭞﭟﭠﭡ
ﭢ
"Ta thực sự là một Sứ Giả đáng tin cậy (đến) với các người."
Verse 163
ﭣﭤﭥ
ﭦ
“Do đó, hãy sợ Allah và nghe theo Ta."
Verse 164
"Ta không đòi hỏi các người tưởng thưởng Ta về nó (Thông Điệp của Allah). Chỉ Thượng Đế của vũ trụ và muôn loài sẽ ân thưởng Ta."
Verse 165
ﭴﭵﭶﭷ
ﭸ
“Phải chăng trong vũ trụ, duy chỉ các người là những kẻ đã đến (làm tình) với đàn ông."
Verse 166
“Và bỏ rơi những người mà Allah đã tạo ra cho các người để làm vợ? Không, các người là những kẻ đã làm điều thái quá.”
Verse 167
Họ đáp: “Nếu không chịu ngưng, hỡi Lut, thì ông sẽ bị trục xuất.”
Verse 168
ﮏﮐﮑﮒﮓ
ﮔ
(Lut) bảo: "Ta là một người thù ghét việc làm của các người."
Verse 169
ﮕﮖﮗﮘﮙ
ﮚ
“Lạy Thượng Đế của bề tôi! Xin Ngài giải cứu bề tôi và gia đình của bề tôi khỏi điều (tội lỗi) mà chúng đã làm.”
Verse 170
ﮛﮜﮝ
ﮞ
Bởi thế, TA đã giải cứu Lut và gia đình của Y, tất cả;
Verse 171
ﮟﮠﮡﮢ
ﮣ
Ngoại trừ một bà lão (vợ Lut) trong số những người ở lại đằng sau.
Verse 172
ﮤﮥﮦ
ﮧ
Rồi, TA đã tiêu diệt đám người còn lại;
Verse 173
Và TA đã xối lên chúng một trận mưa đích đáng. Và tai ác thay trận mưa (đá) xối lên đầu những kẻ đã được cảnh cáo trước!
Verse 174
Trong đó là một dấu hiệu. Nhưng đa số bọn chúng không tin.
Verse 175
ﯛﯜﯝﯞﯟ
ﯠ
Thượng Đế của Ngươi là Đấng Toàn Năng, Đấng Rất Mực Khoan Dung.
Verse 176
ﯡﯢﯣﯤ
ﯥ
Dân cư tại Khu rừng gần Madyan đã cho những Sứ Giả nói dối,
Verse 177
ﯦﯧﯨﯩﯪﯫ
ﯬ
Khi Shu’aib bảo họ: “Các người không sợ Allah hay sao?"
Verse 178
ﯭﯮﯯﯰ
ﯱ
"Ta thực sự là một Sứ Giả đáng tin cậy (đến) với các người."
Verse 179
ﯲﯳﯴ
ﯵ
“Do đó, hãy sợ Allah và nghe theo Ta."
Verse 180
“Và Ta không đòi hỏi các người tưởng thưởng Ta về nó. Thật sự Thượng Đế của vũ trụ và muôn loài se ân thưởng Ta."
Verse 181
“Hãy đo cho đủ và chớ làm cho người khác mất mát."
Verse 182
ﰋﰌﰍ
ﰎ
"Và hãy cần với một bàn cân thẳng đứng."
Verse 183
“Và chớ lấy bớt vật dụng của người và chớ hành động thối nát trên mặt đất, gieo rắc tội ác."
Verse 184
ﭑﭒﭓﭔﭕ
ﭖ
“Và hãy sợ Allah, Đấng đã tạo hóa các người và những thế hệ trước.”
Verse 185
ﭗﭘﭙﭚﭛ
ﭜ
Họ đáp: “Ông chỉ là một người bị mê hoặc."
Verse 186
“Và ông là một người phàm như chúng tôi và chúng tôi nghĩ ông là một người nói dối."
Verse 187
"Thế, ông hãy làm cho một phần trời sụp xuống đè chúng tôi đi nếu ông là một người nói thật.”
Verse 188
ﭱﭲﭳﭴﭵ
ﭶ
Y bảo: “Thượng Đế của Ta là Đấng biết rõ điều mà các người đã làm.”
Verse 189
Nhưng họ đã cho Y nói dối. Bởi thế, họ đã gánh chịu Hình phạt của một Ngày mịt trời; đó là sự trừhg phạt của một Ngày vĩ đại.
Verse 190
Quả thật, trong đó là một dấu hiệu; Nhưng đa số bọn chúng là những kẻ không tin tưởng.
Verse 191
ﮍﮎﮏﮐﮑ
ﮒ
Thượng Đế của Ngươi là Đấng Toàn Năng, Đấng Rất Mực Khoan Dung.
Verse 192
ﮓﮔﮕﮖ
ﮗ
Quả thật, Nó (Qur'an) do Thượng Đế của vũ trụ ban xuống.
Verse 193
ﮘﮙﮚﮛ
ﮜ
Thiên Thần Jibril đã mang Nó xuống;
Verse 194
ﮝﮞﮟﮠﮡ
ﮢ
Đặt vào quả tim của Ngươi (Muhammad) để Ngươi trở thành một Người báo trước;
Verse 195
ﮣﮤﮥ
ﮦ
Bằng tiếng Ả Rập trong sáng;
Verse 196
ﮧﮨﮩﮪ
ﮫ
Quả thật, Nó (đã được nhắc đến) trong những Kinh Sách cũ.
Verse 197
Và hẳn Nó không là một dấu hiệu cho họ hay sao bởi vì những người có học trong số con cháu của Israel đã công nhận Nó?
Verse 198
ﯗﯘﯙﯚﯛ
ﯜ
Và nếu TA có ban Nó xuống cho một người không phải gốc gác Ả Rập,
Verse 199
ﯝﯞﯟﯠﯡﯢ
ﯣ
Để y đọc lại cho họ thì họ vẫn không tin tưởng nơi Nó.
Verse 200
ﯤﯥﯦﯧﯨ
ﯩ
Bằng cách đó, TA đã làm cho nó (việc phủ nhận Qur'an) thấm vào lòng của những kẻ tội lỗi;
Verse 201
Họ sẽ không tin tưởng nơi Nó (Qur'an) cho đến khi đối diện với sự trừng phạt đau đớn;
Verse 202
ﯲﯳﯴﯵﯶ
ﯷ
Bởi Vì nó sẽ đến chụp bắt họ bất ngờ trong lúc họ không nhận thấy.
Verse 203
ﯸﯹﯺﯻ
ﯼ
Sau đó, họ sẽ than: “Chúng tôi có được gia hạn hay chăng?”
Verse 204
ﯽﯾ
ﯿ
Thế, họ còn hối thúc hình phạt cho mau đến nữa hay chăng?
Verse 205
ﰀﰁﰂﰃ
ﰄ
Há Ngươi nhận thấy, nếu TA cho họ hưởng lạc thêm nhiều năm nữa,
Verse 206
ﰅﰆﰇﰈﰉ
ﰊ
Rồi sau đó, hình phạt đã được hứa sẽ đến chụp bắt họ,
Verse 207
ﭑﭒﭓﭔﭕﭖ
ﭗ
Thì việc hưởng thụ đó của họ chẳng giúp ích gì được cho họ cả;
Verse 208
Và quả thật, TA chỉ tiêu diệt một thị trấn sau khi đã có những người báo trước được cử phái đến với nó;
Verse 209
ﭠﭡﭢﭣ
ﭤ
Để làm công việc nhắc nhở. Bởi vì TA không hề bất công.
Verse 210
ﭥﭦﭧﭨ
ﭩ
Và không phải những tên Shaytan mang Nó (Qur'an) xuống.
Verse 211
ﭪﭫﭬﭭﭮ
ﭯ
Bởi vì việc làm đó không thích hợp với chúng và chúng cũng không có khả năng (làm được việc đó).
Verse 212
ﭰﭱﭲﭳ
ﭴ
Thật sự, chúng bị đuổi ra xa không cho nghe (Qur'an).
Verse 213
Bởi thế, chớ cầu nguyện một thần linh nào khác cùng với Allah bởi vì làm thế, Ngươi sẽ là một trong những kẻ bị trừng phạt.
Verse 214
ﭿﮀﮁ
ﮂ
Và hãy cảnh cáo thân tộc gần gũi của Ngươi (Muhammad).
Verse 215
ﮃﮄﮅﮆﮇﮈ
ﮉ
Hãy đối xử từ tốn với những người có đức tin theo Ngươi.
Verse 216
Nhưng nếu họ bất tuân Ngươi thì hãy bảo (họ): "Ta vô can về những điều các người làm."
Verse 217
ﮒﮓﮔﮕ
ﮖ
Và hãy phó thác cho Đấng Toàn Năng, Đấng Rất Mực Khoan Dung.
Verse 218
ﮗﮘﮙﮚ
ﮛ
Ngài thấy Ngươi khi Ngươi đứng (dâng lễ Tahajjud ban đêm).
Verse 219
ﮜﮝﮞ
ﮟ
Và cả động tác của Ngươi trong số những người sụp lạy.
Verse 220
ﮠﮡﮢﮣ
ﮤ
Bởi vì quả thật, Ngài là Đấng Hằng Nghe, Đấng Hằng Biết.
Verse 221
ﮥﮦﮧﮨﮩﮪ
ﮫ
Há Ta (Muhammad) sẽ phải báo cho các người biết ai là kẻ mà những tên Shaytan thường xuống gặp?
Verse 222
ﮬﮭﮮﮯﮰ
ﮱ
Chúng hay xuống nhập với từng tên nói dối và tội lỗi.
Verse 223
ﯓﯔﯕﯖ
ﯗ
Chúng lắng nghe (những tên Shaytan) và đã số bọn chúng là những tên nói dối.
Verse 224
ﯘﯙﯚ
ﯛ
Và các thi sĩ, chỉ những kẻ lầm lạc mới nghe theo chúng.
Verse 225
Há Ngươi không thấy chúng lang thang vơ vẩn nơi mỗi thung lũng?
Verse 226
ﯤﯥﯦﯧﯨ
ﯩ
Và chúng nói ra điều mà chúng không làm hay sao?
Verse 227
Ngoại trừ những ai có đức tin, làm việc thiện, tụng niệm Allah nhiều và giành thắng lợi (từ những kẻ đa thần) sau khi đã bị đối xử bất công. Và những kẻ làm điều sai quấy sẽ sớm biết đâu là cuộc đổi đời mà họ sẽ phải gánh chịu sau này.
تقدم القراءة