Bản dịch Surah الذاريات bằng الفيتنامية từ الترجمة الفيتنامية
Verse 1
ﯤﯥ
ﯦ
Thề bởi những (trận gió) phân tán;
Verse 2
ﯧﯨ
ﯩ
Và những (đám mây) mang nặng (hạt mưa);
Verse 3
ﯪﯫ
ﯬ
Và những (chiếc tàu) lướt đi nhẹ nhàng êm ái;
Verse 4
ﯭﯮ
ﯯ
Và những vị phân phối (thiên lộc và thiên ân) theo Mệnh Lệnh;-
Verse 5
ﯰﯱﯲ
ﯳ
Điều mà các ngươi đã được hứa chắc chắn sẽ (đến) thật.
Verse 6
ﯴﯵﯶ
ﯷ
Việc Phán Xử chắc chắn sẽ xảy ra.
Verse 7
ﭑﭒﭓ
ﭔ
Thề bởi bầu trời đầy các con đường (quỹ đạo),
Verse 8
ﭕﭖﭗﭘ
ﭙ
Quả thật, các ngươi có nhiều ý kiến khác nhau.
Verse 9
ﭚﭛﭜﭝ
ﭞ
Lánh xa Nó (Qur'an) là người lánh xa.
Verse 10
ﭟﭠ
ﭡ
Những kẻ phỏng đoán (và nói dối) bị nguyền rủa:
Verse 11
ﭢﭣﭤﭥﭦ
ﭧ
Những ai vô tâm, lơ là.
Verse 12
ﭨﭩﭪﭫ
ﭬ
Chúng hỏi: “Ngày Phán Xử khi nào xảy ra?”
Verse 13
ﭭﭮﭯﭰﭱ
ﭲ
(Đó là) Ngày mà chúng sẽ bị xử (đốt) trên Lửa.
Verse 14
Hãy nếm sự trừng phạt này của các ngươi. Đây là cái (hình phạt) ma các ngươi thường hối thúc cho mau đến.
Verse 15
ﭻﭼﭽﭾﭿ
ﮀ
Quả thật, những người sợ Allah sẽ ở trong các hoa viên và suối nước.
Verse 16
Hưởng mọi thứ mà Thượng Đế (Allah) của họ ban cho. Quả thật, trước đó họ là những người làm việc nghĩa.
Verse 17
ﮌﮍﮎﮏﮐﮑ
ﮒ
Ban đêm họ thường ít ngủ.
Verse 18
ﮓﮔﮕ
ﮖ
Và thường cầu xin (Allah) tha thứ trước hừng đông.
Verse 19
ﮗﮘﮙﮚﮛ
ﮜ
Và trong tài sản của họ, có phần qui định dành cho người ăn xin và người túng thiếu nhưng không xin xỏ.
Verse 20
ﮝﮞﮟﮠ
ﮡ
Và trên trái đất có những dấu hiệu cho những người có đức tin vững chãi.
Verse 21
ﮢﮣﮤﮥﮦ
ﮧ
Và nơi bản thân của các ngươi. Thế các ngươi không nhìn thấy ư?
Verse 22
ﮨﮩﮪﮫﮬ
ﮭ
Và trên trời có bổng lộc và những thứ mà các ngươi đã được hứa.
Verse 23
Bởi thế, thề bởi Thượng Đế (Đấng Chủ Tể) của các tầng trời và trái đất, đó là Sự Thật giống như cái (Thực tại) mà các ngươi đang nói.
Verse 24
ﯙﯚﯛﯜﯝﯞ
ﯟ
Há Ngươi (Muhammad) đã biết câu chuyện về các vị khách vinh dự của Ibrahim hay chưa?
Verse 25
Khi đến gặp Y, họ chào: “Bằng an” (Ibrahim) đáp: “Bằng an”. Họ là những người lạ mặt.
Verse 26
ﯫﯬﯭﯮﯯﯰ
ﯱ
Rồi Y quay vào gặp người nhà; sau đó, mang thịt bò con béo ra.
Verse 27
ﯲﯳﯴﯵﯶ
ﯷ
Yđặt nó trước mặt khách và thưa: “Quí vị không dùng hay sao?”
Verse 28
(Khi thấy họ không ăn), (Ibrahim) đâm sợ họ. Họ bảo: “Chớ sợ!” và báo cho Y tin mừng về một đứa con trai hiểu biết.
Verse 29
Nhưng bà vợ của Y bước đến trước, lớn tiếng than. Nữ vừa lấy tay đập vào trán của mình vừa nói: “Một bà lão hiếm hoi”
Verse 30
Họ đáp: “Thượng Đế (Đấng Chủ Tể) của nữ đã truyền đúng như thế. Bởi vì Ngài là Đấng Rất Cao Minh, Toàn Tri, Biết (hết tất cả)."
Verse 31
ﭑﭒﭓﭔﭕﭖ
ﭗ
(Ibrahim) bảo: “Thế công tác của quí vị là gì, thưa các vị sứ?”
Verse 32
ﭘﭙﭚﭛﭜﭝ
ﭞ
Họ đáp: “Chúng tôi được phái đến gặp một đám người tội lỗi"
Verse 33
ﭟﭠﭡﭢﭣ
ﭤ
“Để trút lên chúng (mưa) đá (làm bằng) gạch nung."
Verse 34
ﭥﭦﭧﭨ
ﭩ
“Đã được Thượng Đế của Ngươi (Ibrahim) đánh dấu để trừng phạt những kẻ tội lỗi thái quá.”
Verse 35
ﭪﭫﭬﭭﭮﭯ
ﭰ
"Bởi thế, chúng tôi đưa ai là người có đức tin ra khỏi nơi đó."
Verse 36
"Nhưng chúng tôi không thấy ai ngoài một gia đình Muslim."
Verse 37
"Và chúng tôi đã để lại nơi đó một dấu hiệu (làm bài học) cho những ai sợ sự trừng phạt đau đớn."
Verse 38
Và về Musa khi TA phái Y đến gặp Fir-'awn với một thẩm quyền rõ rệt.
Verse 39
ﮊﮋﮌﮍﮎﮏ
ﮐ
Nhưng ỷ vào quyền hành, hắn (Fir-'awn) quay lưng làm ngơ và bảo: “(Đây là) một tên phù thủy hay một thằng điên.”
Verse 40
Bởi thế, TA đã bắt phạt hắn và lực lượng của hắn. Và TA đã quẳng chúng xuống biển; và hắn (Fir-'awn) là một tên đáng trách.
Verse 41
Và về bộ tộc 'Ad (là một dấu hiệu) khi TA gởi một trận cuồng phong tàn phá đến trừng phạt chúng.
Verse 42
Nó không bỏ sót một vật gì khi ùa đến, ngoại trừ việc để lại những đống vụn rã rời.
Verse 43
Và về bộ tộc Thamud (là một Dấu Hiệu) khi có lời bảo chúng: “Các người hãy tạm hưởng lạc trong một thời gian ngắn.”
Verse 44
Nhưng chúng xấc xược thách thức Mệnh Lệnh của Thượng Đế của chúng. Do đó, lưỡi tầm sét đã đánh chúng trong lúc chúng đang ngóng nhìn.
Verse 45
Bởi thế, chúng không đứng dậy cũng không tự cứu mình được.
Verse 46
Trước đây, người dân của Nuh cũng đã bị tiêu diệt như thế. Quả thật, chúng là một đám người bất tuân, nổi loạn.
Verse 47
ﯰﯱﯲﯳﯴ
ﯵ
Và bầu trời, TA đã dựng nó bằng sức mạnh và TA làm cho nó bao la.
Verse 48
ﯶﯷﯸﯹ
ﯺ
Và trái đất, TA đã trải nó ra rộng; và Đấng trải ấy thật là Ưu Việt.
Verse 49
Và TA đã tạo hóa mọi vật theo cặp để cho các ngươi ghi nhớ.
Verse 50
Bởi thế, hãy chạy đến với Allah, quả thật, Ta (Muhammad) là một người báo trước rõ rệt do Ngài cử đến với các người.
Verse 51
Và chớ tôn thờ một thần linh nào cùng với Allah. Quả thật, Ta là một người báo trước công khai do Ngài cử đến với các người.
Verse 52
Đúng như thế; không một Sứ Giả nào đến gặp những ai sống trước chúng mà không bị xuyên tạc là 'một tên phù thủy hay một thằng điên'.
Verse 53
Phải chăng đây là lời di chúc mà chúng truyền cho nhau? Không, chúng là một dân tộc thái quá.
Verse 54
ﭧﭨﭩﭪﭫ
ﭬ
Bởi thế, hãy quay lánh xa chúng. Ngươi không bị khiển trách.
Verse 55
ﭭﭮﭯﭰﭱ
ﭲ
Và hãy nhắc nhở. Và sự nhắc nhở có lợi cho những người có đức tin.
Verse 56
ﭳﭴﭵﭶﭷﭸ
ﭹ
Và TA đã tạo ra loài Jinn và loài người chỉ để thờ phụng TA.
Verse 57
TA không đòi hỏi bổng lộc từ chúng và cũng không đòi chúng nuôi TA.
Verse 58
Chính Allah là Đấng Cung cấp bổng lộc (cho tất cả), Chủ Nhân của Quyền Lực, rất Hùng Mạnh.
Verse 59
Bởi thế, phần của những kẻ làm điều sai quấy giống với phần của những người bạn của chúng. Bởi thế, chúng không cần phải vội vàng.
Verse 60
Khốn khổ cho những kẻ vô đức tin về Ngày mà chúng đã được hứa.
تقدم القراءة