سورة الذاريات

الترجمة الفيتنامية

Bản dịch Surah الذاريات bằng الفيتنامية từ الترجمة الفيتنامية

الترجمة الفيتنامية

الناشر

مجمع الملك فهد

Verse 1
Thề bởi những (trận gió) phân tán;
Verse 2
Và những (đám mây) mang nặng (hạt mưa);
Verse 3
Và những (chiếc tàu) lướt đi nhẹ nhàng êm ái;
Verse 4
Và những vị phân phối (thiên lộc và thiên ân) theo Mệnh Lệnh;-
Verse 5
Điều mà các ngươi đã được hứa chắc chắn sẽ (đến) thật.
Verse 7
Thề bởi bầu trời đầy các con đường (quỹ đạo),
Verse 8
Quả thật, các ngươi có nhiều ý kiến khác nhau.
Verse 10
Những kẻ phỏng đoán (và nói dối) bị nguyền rủa:
Hãy nếm sự trừng phạt này của các ngươi. Đây là cái (hình phạt) ma các ngươi thường hối thúc cho mau đến.
Quả thật, những người sợ Allah sẽ ở trong các hoa viên và suối nước.
Hưởng mọi thứ mà Thượng Đế (Allah) của họ ban cho. Quả thật, trước đó họ là những người làm việc nghĩa.
Verse 18
Và thường cầu xin (Allah) tha thứ trước hừng đông.
Và trong tài sản của họ, có phần qui định dành cho người ăn xin và người túng thiếu nhưng không xin xỏ.
Verse 20
Và trên trái đất có những dấu hiệu cho những người có đức tin vững chãi.
Và nơi bản thân của các ngươi. Thế các ngươi không nhìn thấy ư?
Và trên trời có bổng lộc và những thứ mà các ngươi đã được hứa.
Bởi thế, thề bởi Thượng Đế (Đấng Chủ Tể) của các tầng trời và trái đất, đó là Sự Thật giống như cái (Thực tại) mà các ngươi đang nói.
Há Ngươi (Muhammad) đã biết câu chuyện về các vị khách vinh dự của Ibrahim hay chưa?
Yđặt nó trước mặt khách và thưa: “Quí vị không dùng hay sao?”
(Khi thấy họ không ăn), (Ibrahim) đâm sợ họ. Họ bảo: “Chớ sợ!” và báo cho Y tin mừng về một đứa con trai hiểu biết.
Nhưng bà vợ của Y bước đến trước, lớn tiếng than. Nữ vừa lấy tay đập vào trán của mình vừa nói: “Một bà lão hiếm hoi”
Họ đáp: “Thượng Đế (Đấng Chủ Tể) của nữ đã truyền đúng như thế. Bởi vì Ngài là Đấng Rất Cao Minh, Toàn Tri, Biết (hết tất cả)."
(Ibrahim) bảo: “Thế công tác của quí vị là gì, thưa các vị sứ?”
Họ đáp: “Chúng tôi được phái đến gặp một đám người tội lỗi"
Verse 34
“Đã được Thượng Đế của Ngươi (Ibrahim) đánh dấu để trừng phạt những kẻ tội lỗi thái quá.”
"Bởi thế, chúng tôi đưa ai là người có đức tin ra khỏi nơi đó."
"Và chúng tôi đã để lại nơi đó một dấu hiệu (làm bài học) cho những ai sợ sự trừng phạt đau đớn."
Nhưng ỷ vào quyền hành, hắn (Fir-'awn) quay lưng làm ngơ và bảo: “(Đây là) một tên phù thủy hay một thằng điên.”
Bởi thế, TA đã bắt phạt hắn và lực lượng của hắn. Và TA đã quẳng chúng xuống biển; và hắn (Fir-'awn) là một tên đáng trách.
Và về bộ tộc 'Ad (là một dấu hiệu) khi TA gởi một trận cuồng phong tàn phá đến trừng phạt chúng.
Nó không bỏ sót một vật gì khi ùa đến, ngoại trừ việc để lại những đống vụn rã rời.
Và về bộ tộc Thamud (là một Dấu Hiệu) khi có lời bảo chúng: “Các người hãy tạm hưởng lạc trong một thời gian ngắn.”
Nhưng chúng xấc xược thách thức Mệnh Lệnh của Thượng Đế của chúng. Do đó, lưỡi tầm sét đã đánh chúng trong lúc chúng đang ngóng nhìn.
Trước đây, người dân của Nuh cũng đã bị tiêu diệt như thế. Quả thật, chúng là một đám người bất tuân, nổi loạn.
Và bầu trời, TA đã dựng nó bằng sức mạnh và TA làm cho nó bao la.
Verse 48
Và trái đất, TA đã trải nó ra rộng; và Đấng trải ấy thật là Ưu Việt.
Bởi thế, hãy chạy đến với Allah, quả thật, Ta (Muhammad) là một người báo trước rõ rệt do Ngài cử đến với các người.
Và chớ tôn thờ một thần linh nào cùng với Allah. Quả thật, Ta là một người báo trước công khai do Ngài cử đến với các người.
Đúng như thế; không một Sứ Giả nào đến gặp những ai sống trước chúng mà không bị xuyên tạc là 'một tên phù thủy hay một thằng điên'.
Phải chăng đây là lời di chúc mà chúng truyền cho nhau? Không, chúng là một dân tộc thái quá.
Bởi thế, hãy quay lánh xa chúng. Ngươi không bị khiển trách.
Và hãy nhắc nhở. Và sự nhắc nhở có lợi cho những người có đức tin.
Chính Allah là Đấng Cung cấp bổng lộc (cho tất cả), Chủ Nhân của Quyền Lực, rất Hùng Mạnh.
Bởi thế, phần của những kẻ làm điều sai quấy giống với phần của những người bạn của chúng. Bởi thế, chúng không cần phải vội vàng.
تقدم القراءة