Bản dịch Surah الذاريات bằng الفيتنامية từ الترجمة الفيتنامية للمختصر في تفسير القرآن الكريم
الترجمة الفيتنامية للمختصر في تفسير القرآن الكريم
الناشر
مركز تفسير للدراسات القرآنية
Verse 1
ﯤﯥ
ﯦ
Allah thề bởi những cơn gió thổi cát bụi bay đi.
Verse 2
ﯧﯨ
ﯩ
Allah thề bởi những đám mây chứa nước mưa.
Verse 3
ﯪﯫ
ﯬ
Allah thề bởi những con tàu, thuyền vượt trùng dương một cách nhẹ nhàng, êm ái.
Verse 4
ﯭﯮ
ﯯ
Allah thề bởi các vị Thiên Thần được giao nhiệm vụ phân phối theo mệnh lệnh của Ngài.
Verse 5
ﯰﯱﯲ
ﯳ
Quả thật, điều mà Thượng Đế của các ngươi đã hứa với các người từ việc phán xét, thưởng phạt là thật, chắc chắn sẽ xảy ra, không có gì phải hoài nghi và ngờ vực cả.
Verse 6
ﯴﯵﯶ
ﯷ
Quả thật việc phán xử các bề tôi vào Ngày Phục Sinh là điều chắc chắn xảy ra.
Verse 7
ﭑﭒﭓ
ﭔ
Allah thề bởi bầu trời tốt đẹp chứa đầy những con đường.
Verse 8
ﭕﭖﭗﭘ
ﭙ
Hỡi cư dân Makkah, quả thật các ngươi không có sự thống nhất trong lời nói. Có lúc các ngươi nói Qur'an là thứ bùa chú, có lúc các ngươi nói Qur'an là thơ ca; có lúc các ngươi nói Muhammad là một tên thầy bùa và có lúc các ngươi lại nói Y là một nhà thơ.
Verse 9
ﭚﭛﭜﭝ
ﭞ
Những kẻ lánh xa Qur'an và Thiên Sứ Muhammad là những kẻ lánh xa sự chỉ đạo và hướng dẫn.
Verse 10
ﭟﭠ
ﭡ
Những kẻ phủ nhận, những kẻ mà chúng đã nói không đúng về Qur'an và Thiên Sứ Muhammad, bị nguyền rủa.
Verse 11
ﭢﭣﭤﭥﭦ
ﭧ
Những kẻ mà chúng không quan tâm và nghĩ đến cuộc sống cõi Đời Sau.
Verse 12
ﭨﭩﭪﭫ
ﭬ
Chúng hỏi bao giờ Ngày Thưởng Phạt sẽ đến ý muốn phủ nhận.
Verse 13
ﭭﭮﭯﭰﭱ
ﭲ
Allah trả lời cho câu hỏi của chúng: Đó là Ngày mà chúng sẽ bị trừng phạt trên Lửa.
Verse 14
Rồi đây sẽ có lời bảo chúng: Các ngươi hãy nếm mùi của sự trừng phạt dành cho các ngươi. Đây là cái mà các ngươi cứ thường hối thúc nó mau đến bằng những câu hỏi chế giễu khi các ngươi được cảnh báo.
Verse 15
ﭻﭼﭽﭾﭿ
ﮀ
Quả thật những người kính sợ Thượng Đế của họ qua việc chấp hành các mệnh lệnh của Ngài và tránh xa những điều Ngài nghiêm cấm, vào Ngày Phán Xét, sẽ được ở trong các Ngôi Vườn bên những con suối chảy nơi Thiên Đàng.
Verse 16
Họ sẽ thụ hưởng những gì mà Thượng Đế của họ ban thưởng cho họ. Quả thật, trên thế gian họ đã làm tốt và đó là phần thưởng dành cho họ.
Verse 17
ﮌﮍﮎﮏﮐﮑ
ﮒ
Họ thường dâng lễ nguyện Salah trong đêm, họ chỉ ngủ một chút ít trong đêm.
Verse 18
ﮓﮔﮕ
ﮖ
Và vào khoảng thời gian cuối của đêm trước lễ nguyện Salah Fajr, họ thường cầu xin Allah tha thứ cho tội lỗi của họ.
Verse 19
ﮗﮘﮙﮚﮛ
ﮜ
Họ luôn trích một phần trong tài sản của họ như một nghĩa vụ bắt buộc dành cho những người ăn xin trong thiên hạ cũng như những người túng thiếu nhưng không xin xỏ thiên hạ.
Verse 20
ﮝﮞﮟﮠ
ﮡ
Và trên trái đất, nơi mà Allah đã đặt lên đó núi non, biển cả, sông ngòi, cây cối, động vật, là những bằng chứng về quyền năng của Allah cho những người có đức tin kiên định rằng Allah là Đấng Tạo Hóa.
Verse 21
ﮢﮣﮤﮥﮦ
ﮧ
Hỡi những nhân loại, các bằng chứng về quyền năng của Allah có cả trong bản thân của các ngươi, thế các ngươi không nhìn thấy và suy ngẫm ư?!
Verse 22
ﮨﮩﮪﮫﮬ
ﮭ
Và trên bầu trời có những nguồn bổng lộc cho cuộc sống thế tục và cho tôn giáo của các ngươi, và còn có những thứ mà các ngươi đã được hứa từ điều xấu và điều tốt.
Verse 23
Do vậy, thề bởi Thượng Đế của bầu trời và trái đất, quả thật sự Phục Sinh là sự thật, nó chắc chắn sẽ xảy ra, không phải nghi ngờ gì về việc đó, giống như không có sự nghi ngờ trong lời nói của các ngươi khi các ngươi nói chuyện.
Verse 24
ﯙﯚﯛﯜﯝﯞ
ﯟ
Hỡi Thiên Sứ Muhammad, Ngươi có biết về câu chuyện của những vị khách của Ibrahim được cử phái đến với Y từ các Thiên Thần vinh dự chưa?
Verse 25
Khi họ (các Thiên Thần) vào nhà Ibrahim, họ đã chào Salam và Ibrahim đáp lại lời Salam. Ibrahim đã nói trong lòng: những người này lạ quá, mình không biết họ.
Verse 26
ﯫﯬﯭﯮﯯﯰ
ﯱ
Sau đó, Ibrahim lặng lẽ vào gặp người nhà rồi mang ra một con bò non mập béo để tiếp đãi các vị khách vì nghĩ rằng họ người phàm tục.
Verse 27
ﯲﯳﯴﯵﯶ
ﯷ
Ibrahim mang con bò ra tiếp đãi họ (nhưng họ không ăn) nên Ibrahim nói: sao quí ngài không ăn?
Verse 28
Khi thấy họ không ăn, Ibrahim lo sợ trong lòng. Các Thiên Thần trấn an: Ngươi đừng sợ, chúng tôi là các Sứ Giả được Allah cử đến. Rồi họ báo tin vui cho Ibrahim về đứa con trai hiểu biết mà Allah sẽ ban cho Y, đó là Is-haq.
Verse 29
Khi nghe báo tin, vợ Ibrahim bước lên và lớn tiếng trong sự vui mừng thốt lên một lời lẽ ngạc nhiên: một bà lão già nua và hiếm muộn sẽ sinh con ư?!
Verse 30
Các Thiên Thần nói với vợ Ibrahim: Những gì chúng tôi thông báo cho bà ta là những gì mà Thượng Đế của bà ta đã phán, và những gì Ngài đã phán là chắc chắn. Quả thật Ngài là Đấng Sáng Suốt trong việc tạo hóa và định đoạt, và Ngài là Đấng Hằng Biết điều gì cải thiện cho đám bề tôi của Ngài.
Verse 31
ﭑﭒﭓﭔﭕﭖ
ﭗ
Ibrahim hỏi các Thiên Thần: Các ngài có nhiệm vụ gì? Các ngài đến đây với mục đích gì?
Verse 32
ﭘﭙﭚﭛﭜﭝ
ﭞ
Các Thiên Thần đáp: Allah cử phái chúng tôi đến với đám người tội lỗi làm những điều thối nát.
Verse 33
ﭟﭠﭡﭢﭣ
ﭤ
Để đổ lên họ trận mưa đá bằng đất nung.
Verse 34
ﭥﭦﭧﭨ
ﭩ
Đã được Thượng Đế của Ngươi - hỡi Ibrahim - giáng xuống trừng phạt đám người vượt quá giới luật của Allah về sự vô đức tin và tội lỗi.
Verse 35
ﭪﭫﭬﭭﭮﭯ
ﭰ
Bọn ta cứu những người có đức tin bình an rời khỏi ngôi làng của Lut, họ không bị trừng phạt cùng những đám người tội lỗi.
Verse 36
Tiếc là bọn ta chỉ tìm thấy một gia đình Muslim duy nhất, đó là gia đình của Nabi Lut.
Verse 37
Và TA (Allah) đã bỏ lại ngôi làng mà dân chúng của Lut đã ở dấu hiệu của hình phạt, chứng minh hình phạt đã giáng lên họ để làm bài học cho những ai biết sợ hình phạt kinh hoàng đã giáng lên dân chúng nơi đó để họ không làm những hành động mà dân chúng đó đã làm.
Verse 38
Và Musa, TA đã cử phái Y đến gặp Fir'awn với các bằng chứng rõ ràng, dấu hiệu đó dành cho người biết khiếp sợ về hình phạt đau đớn.
Verse 39
ﮊﮋﮌﮍﮎﮏ
ﮐ
Fir'awn dựa vào sức mạnh và quân lực đã phủ nhận chân lý, hắn nói về Musa: Đây là tên phù thủy chuyên mê hoặc thiên hạ hoặc là tên thần kinh không kiểm soát được mình đang nói gì.
Verse 40
Thế là TA đã túm bắt lấy hắn và đám thuộc hạ của hắn, ném tất cả chúng xuống biển cho chúng chết chìm, và Fir'awn là tên đáng bị khiển trách vì ngông cuồng tự xưng là thượng đế.
Verse 41
Và về 'Ad dân chúng của Hud là bài học cho ai biết lo sợ về hình phạt đau đớn khi TA gởi đến họ một cơn giông tố, không mang mưa đến, không giúp cây thụ phấn được cũng không mang đến bất cứ điều tốt nào.
Verse 42
Nó không chừa lại bất cứ thứ gì, con người, tài sản hay những thứ gì khác, mỗi khi nó đi qua.
Verse 43
Và về Thamud, dân chúng của Saleh, là một bài học dành cho những ai biết lo sợ về hình phạt đau đớn, khi có lời bảo họ: Các ngươi hãy tận dụng cuộc đời mình làm điều hữu ích trước khi hết tuổi thọ.
Verse 44
Nhưng họ đã ngông cuồng kháng lại lệnh của Thượng Đế của họ, thể hiện sự tự cao, vô đức tin và bất tuân, thế là họ đã bị lưỡi tầm sét giáng xuống trong lúc họ chỉ biết trố mắt ra nhìn một cách bất lực. Bởi trước đó ba ngày họ được cho biết rằng sự trừng phạt sẽ đến.
Verse 45
Dù đã biết trước hình phạt sắp đến nhưng họ vẫn bất lực tránh khỏi hình phạt, cũng như không đủ sức mạnh ngăn cản hình phạt đang dần đến hủy diệt họ.
Verse 46
Và TA cũng đã tiêu diệt cộng đồng của Nuh bằng trận Đại Hồng Thủy trước đám người đã được nhắc trên đây. Quả thật, chúng là đám người không biết tuân lệnh Allah và chúng đáng bị trừng phạt.
Verse 47
ﯰﯱﯲﯳﯴ
ﯵ
Và bầu trời do TA tạo dựng nó, TA trang hoàng nó được chỉnh chu bằng sức mạnh và TA kéo dãn nó ra rộng bao la.
Verse 48
ﯶﯷﯸﯹ
ﯺ
Và mặt đất được TA trải bằng phẳng cho cư dân trú ngụ tựa như chiếc thảm, thật hồng phúc thay cho việc trải rộng đó.
Verse 49
Và tất cả mọi thứ TA đều tạo ra theo từng cặp như: bầu trời và trái đất, đại dương và đất liền mong rằng các ngươi biết tin tưởng vào Allah duy nhất, Đấng đã tạo ra mọi thứ đều có cặp đôi cũng như mong rằng các ngươi biết ghi nhớ quyền năng của Ngài.
Verse 50
Vì vậy các ngươi hãy chạy khỏi hình phạt của Allah để đến với phần thưởng của Ngài, các ngươi hãy phục tùng Ngài, các ngươi chớ đừng bất tuân Ngài, quả thật, Ta đối với các ngươi - hỡi nhân loại - chỉ là người cảnh báo về hình phạt của Ngài mà thôi.
Verse 51
Và các ngươi đừng có tạo dựng cùng với Allah một thần linh để thờ phượng thay vì thờ Ngài duy nhất, quả thật, Ta đối với các ngươi chỉ là người công khai cảnh báo các ngươi về hình phạt của Ngài mà thôi.
Verse 52
Các thế hệ trước đây cũng phủ nhận sứ mạng của Thiên Sứ giống như thị dân Makkah vậy, bất cứ Thiên Sứ nào được Allah phái đến gặp họ đều bị họ bảo là tên phù thủy hoặc là thằng điên.
Verse 53
Hay là các thế hệ trước truyền di chúc lại cho thế hệ sau là phải phủ nhận Thiên Sứ thì phải? Không, đúng hơn tất cả bọn chúng là đám người ngông cuồng quá mức.
Verse 54
ﭧﭨﭩﭪﭫ
ﭬ
Do vậy, Ngươi - hỡi Thiên Sứ - hãy lánh xa những kẻ phủ nhận đó đi. Ngươi không bị khiển trách gì đâu, bởi Ngươi đã truyền đạt hết thông tin mà Ngươi đã nhận.
Verse 55
ﭭﭮﭯﭰﭱ
ﭲ
Và không cấm Ngươi nhắc nhở họ, Ngươi hãy khuyên bảo họ bởi quả thật lời nhắc nhở rất hữu dụng đối với tín đồ có đức tin nơi Allah.
Verse 56
ﭳﭴﭵﭶﭷﭸ
ﭹ
Và TA đã tạo ra loài Jinn và loài người chỉ với mục đích để chúng thờ phượng TA duy nhất, chứ không phải để chúng tổ hợp cùng với TA.
Verse 57
TA không cần họ ban bổng lộc hay nuôi ăn TA.
Verse 58
Quả thật, Allah là Đấng cung cấp bổng lộc cho đám nô lệ của Ngài, tất cả vạn vật đều cần đến bổng lộc của Ngài để sống, Đấng có sức mạnh tuyệt đối không thế lực nào thắng được Ngài, tất cả loài Jinn và loài người đều hạ mình phủ phục trước sức mạnh của Ngài Toàn Năng.
Verse 59
Đối với đám người tự bất công với bản thân họ bằng cách phủ nhận sứ mạng của Ngươi - hỡi Thiên Sứ - họ sẽ bị trừng phạt giống như đám người của những thế hệ trước đây, họ sẽ có một giới hạn nhất định, thế nên họ đừng vội vàng thúc giục TA ban hình phạt đến với họ sớm hơn thời gian đã định.
Verse 60
Đáng bị tiêu diệt và bị thất bại đối với đám người phủ nhận đức tin nơi Allah và bác bỏ sứ mạng của Thiên Sứ của Ngài, những người mà họ đã được hứa hẹn về một sự trừng phạt giáng lên họ trong Ngày Tận Thế.
تقدم القراءة