Bản dịch Surah البروج bằng الفيتنامية từ الترجمة الفيتنامية للمختصر في تفسير القرآن الكريم
الترجمة الفيتنامية للمختصر في تفسير القرآن الكريم
الناشر
مركز تفسير للدراسات القرآنية
Verse 1
ﭛﭜﭝ
ﭞ
Allah thể bởi bầu trời chứa đầy các chòm sao, bao gồm cả mặt trời, mặt trăng.
Verse 2
ﭟﭠ
ﭡ
Ngài thề bởi Ngày Phục Sinh được Ngài hứa hẹn tập trung tất cả vạn vật.
Verse 3
ﭢﭣ
ﭤ
Ngài thề bởi người làm chứng chẳng hạn như Nabi làm chứng cho cộng đồng tín đồ của Người và điều được chứng kiến chẳng hạn như cộng đồng tín đồ của Người được sự làm chứng của vị Nabi của họ.
Verse 4
ﭥﭦﭧ
ﭨ
Nguyền rủa đám người đã đào cái hào khổng lồ.
Verse 5
ﭩﭪﭫ
ﭬ
Đã đốt lửa trong cái hào để thiêu sống những người có đức tin trong đó.
Verse 6
ﭭﭮﭯﭰ
ﭱ
Những kẻ ngồi cạnh cái hố đầy lửa.
Verse 7
ﭲﭳﭴﭵﭶﭷ
ﭸ
Chúng thản nhiên chứng kiến cảnh tượng hành hình những người có đức tin trong cái hào đó.
Verse 8
Thật ra, lý do mà đám người vô đức tin đối xử dã man với những người có đức tin chỉ vì họ tin tưởng Allah, Đấng Toàn năng và Tối cao, Đấng mà không gì chiến thắng được Ngài, Đấng đáng được ca ngợi và tán dương.
Verse 9
Ngài là Đấng Chủ Tể của toàn vũ trụ, Đấng làm chứng cho tất cả mọi sự việc, không có điều gì có thể che giấu được Ngài.
Verse 10
Chắc chắn những kẻ thiêu sống những người có đức tin nam và nữ bằng lửa để họ từ bỏ đức tin vào Allah duy nhất, nhưng sau đó không biết hối cải với Allah về tội lỗi đã phạm thì vào Ngày Tận Thế, chúng sẽ bị trừng phạt đau đớn trong Hỏa Ngục, chúng sẽ bị thiêu đốt giống như chúng đã thiêu đốt những người có đức tin bằng lửa vậy.
Verse 11
Những người có đức tin nơi Allah và luôn làm điều thiện tốt thì sẽ được thu nhận vào Thiên Đàng với những ngôi vườn có các dòng sông chảy bên dưới những tòa lâu đài. Đó đích thực là sự thành công vĩ đại.
Verse 12
ﮮﮯﮰﮱ
ﯓ
Chắc chắn sự túm lấy của Thượng Đế Ngươi - hỡi Thiên Sứ - đối với kẻ phản nghịch - đôi khi có trì hoãn - nhưng rất dữ dội.
Verse 13
ﯔﯕﯖﯗ
ﯘ
Ngài là Đấng khởi tạo vạn vật và trừng phạt rồi sau đó sẽ tái dựng lại toàn bộ.
Verse 14
ﯙﯚﯛ
ﯜ
Ngài là Đấng hằng tha thứ cho những ai quay đầu sám hối, Ngài là Đấng tràn đầy tình thương đối với những ai theo chỉ đạo của Ngài.
Verse 15
ﯝﯞﯟ
ﯠ
Ngài là Chủ nhân của chiếc Ngai vương oai nghiêm và vĩ đại.
Verse 16
ﯡﯢﯣ
ﯤ
Và Ngài là Đấng tha thứ cho bất cứ tội lỗi nào cho bất cứ ai Ngài muốn, và Ngài muốn trừng phạt ai theo ý Ngài, không ai ép buộc được Ngài.
Verse 17
ﯥﯦﯧﯨ
ﯩ
Có đến với Ngươi chưa - hỡi Thiên Sứ - thông tin về những lực lượng hùng hậu tập trung chiến đấu với Chân Lý và ngăn chặn nó?
Verse 18
ﯪﯫ
ﯬ
Thuộc cộng đồng của Fir’awn (Pharaon) và Thamud, người dân của Saleh?
Verse 19
ﯭﯮﯯﯰﯱ
ﯲ
Điều cấm cản đức tin của nhóm người này, không phải họ chưa nghe đến thông tin của những cộng đồng thời trước đã bị tiêu diệt về tội phủ nhận. Điều khiến họ không tin những gì Thiên Sứ mang đến cho họ là vì họ đi theo dục vọng bản thân.
Verse 20
ﯳﯴﯵﯶ
ﯷ
Và Allah biết rõ hết mọi hành động của họ, không gì qua mặt được Ngài và dựa vào đó Ngài sẽ thưởng phạt.
Verse 21
ﯸﯹﯺﯻ
ﯼ
Và Qur’an không phải là những bài thơ cũng không phải là một trò ma thuật như chúng đã bảo, mà nó là lời kinh vĩ đại và thiêng liêng.
Verse 22
ﯽﯾﯿ
ﰀ
Được ghi trong văn bản lưu trữ trên cao, không thay đổi, không chỉnh sửa, không thêm và không bớt.
تقدم القراءة