Bản dịch Surah القمر bằng الفيتنامية từ الترجمة الفيتنامية للمختصر في تفسير القرآن الكريم
الترجمة الفيتنامية للمختصر في تفسير القرآن الكريم
الناشر
مركز تفسير للدراسات القرآنية
Verse 1
ﮬﮭﮮﮯ
ﮰ
Thời khắc tận thế đang tiến rất gần, và mặt trăng đã từng bị chẻ đôi trong thời của Thiên Sứ, việc chẻ đôi đó chính là một trong các dấu hiệu mà Thiên Sứ đã trình bày.
Verse 2
Thế nhưng mỗi khi người đa thần chứng kiến bằng chứng được trình bày rõ ràng khẳng định sứ mạng của Thiên Sứ thì họ vẫn không chấp nhận, ngược lại còn nói: Với những bằng chứng mà chúng tôi đã nhìn thấy toàn là những thứ bịa đặt, giả dối.
Verse 3
Và họ đã phủ nhận mọi chân lý được mang đến cho họ bằng sự mù quáng thuận theo sở thích của họ và rồi mọi việc - dù tốt hay xấu - sẽ đều được phơi bày sự thật trong Ngày Tận Thế.
Verse 4
Trong khi đó họ đã nhận được nguồn tin xác thực về những cộng đồng trước đây bị Allah tiêu diệt vì tội phủ nhận đức tin, hành động bất công của họ, lẽ nào lại không đủ răn đe cho hành động vô đức tin và bất công của họ ư?!
Verse 5
ﯪﯫﯬﯭﯮﯯ
ﯰ
Và nguồn tin được mang đến là bằng chứng cụ thể, xác đáng, tuy nhiên không đủ sức răn đe đám người không tin tưởng Allah và Đời Sau.
Verse 6
Nếu như họ không được hướng dẫn thì Ngươi - hỡi Thiên Sứ - hãy bỏ mặc họ mà chờ đợi Ngày mà Thiên Thần thổi còi được lệnh thổi còi kêu gọi tập trung để tất cả đối diện với sự thật kinh hoàng.
Verse 7
Cặp mắt của họ thể hiện rõ nỗi nhục nhã lúc họ rời khỏi mồ của mình, họ hướng đến nơi tập trung chịu thanh toán tựa như bầy cào cào đang bay tứ tán.
Verse 8
Họ vội vã chạy theo lời gọi triệu tập, người vô đức tin sẽ nói: Hôm nay đúng là Ngày khó khăn bởi phải đối diện với biết bao là gian truân và nỗi sợ.
Verse 9
Trước đám người phủ nhận sứ mạng của Ngươi - hỡi Thiên Sứ - dân chúng của Nuh đã phủ nhận Người khi được gởi đến với họ, và họ bảo: hắn là kẻ thần kinh. Và họ không ngừng mắng chửi, hạ nhục Người bằng mọi cách có thể, thậm chí còn hăm dọa nếu Người không dừng việc mời gọi.
Verse 10
ﭯﭰﭱﭲﭳ
ﭴ
Thế là Nuh khấn vái Thượng Đế của Người: Quả thật, dân chúng đã chiếm ưu thế trên bề tôi, họ không nghe lời gọi của bề tôi, xin Ngài giúp bề tôi giáng lên họ sự trừng phạt.
Verse 11
ﭵﭶﭷﭸﭹ
ﭺ
Vì vậy, TA đã mở toang các cửa trời để nước ồ ạt trút xuống không ngừng.
Verse 12
Và TA mở đất cho nước phun trào lên thành dòng chảy mạnh. Thế là hai dòng nước gặp nhau, nước mưa từ trời xuống và nước từ đất lên tuân theo sắc lệnh mà Allah đã tiền định, thế là nó đã nhấn chìm tất cả ngoại trừ ai Allah muốn.
Verse 13
ﮅﮆﮇﮈﮉ
ﮊ
Và TA đã chuyên chở Nuh trên chiếc tàu được đóng bởi ván gỗ và đinh, thế là TA đã cứu vớt Y và những ai cùng Y thoát khỏi chết chìm.
Verse 14
ﮋﮌﮍﮎﮏﮐ
ﮑ
Con tàu được TA trông chừng bảo vệ bình an trước những con sóng to liên hồi. Ta giúp đỡ Nuh chiến thắng trước những ai phủ nhận Y và vô đức tin với những gì được gởi đến từ Allah.
Verse 15
ﮒﮓﮔﮕﮖﮗ
ﮘ
Và thật ra TA đã lưu truyền việc trừng phạt đám người đó để làm bài học cho thế hệ sau, thế có ai biết lấy đó làm gương chăng?
Verse 16
ﮙﮚﮛﮜ
ﮝ
TA đã trừng phạt thế nào đối với đám người phủ nhận và lời cảnh báo hủy diệt dành cho chúng đã ra sao?
Verse 17
Và quả thật TA đã làm cho Qur'an dễ dàng để ghi nhớ và để răn đe, vậy có ai biết khắc ghi những lời răn đe đó chăng?
Verse 18
ﮦﮧﮨﮩﮪﮫ
ﮬ
Người dân 'Ad đã phủ nhận vị Nabi Hud của họ, các ngươi - hỡi dân Makkah - hãy suy ngẫm xem sự trừng phạt của TA ra sao đối với kẻ phủ nhận? Và lời răn đe về việc hủy diệt họ đã như thế nào?
Verse 19
Chắc chắn TA đã trừng phạt họ bằng trận gió buốt giá trong ngày đại nạn xảy ra liên tiếp với họ cho đến khi Hỏa Ngục được mang đến.
Verse 20
ﯘﯙﯚﯛﯜﯝ
ﯞ
Con người bị bốc bay lên khỏi mặt đất, và bị ném đi nơi khác chôn đầu xuống đất tựa như những thân cây chà là trơ trụi không còn ngọn.
Verse 21
ﯟﯠﯡﯢ
ﯣ
Các ngươi - hỡi dân Makkah - hãy suy ngẫm xem sự trừng phạt của TA đã ra sao đối với kẻ phủ nhận? Và lời răn đe về việc hủy diệt họ đã như thế nào?
Verse 22
Và quả thật TA đã làm cho Qur'an dễ dàng để ghi nhớ và để răn đe, vậy có ai biết khắc ghi những lời răn đe đó chăng?
Verse 23
ﯬﯭﯮ
ﯯ
Dân chúng Thamud đã phủ nhận lời khuyên bảo và đe dọa của Thiên Sứ Saleh.
Verse 24
Họ quyết khăng khăng chối bỏ, nói: Chúng ta phải nghe theo một con người phàm tục giống như chúng ta hay sao? Nếu chúng ta theo y trong trường hợp này là chúng ta đã lệch khỏi chân lý và sẽ bị bất ổn.
Verse 25
Lẽ nào chỉ chọn một mình Y để mặc khải thay vì ai đó trong chúng ta ư? Không đúng hơn Y là kẻ khoác lác tự cao.
Verse 26
ﰅﰆﰇﰈﰉ
ﰊ
Rồi vào Ngày Tận Thế, họ sẽ sớm biết ai mới thật sự là kẻ khoác lác tự cao, Saleh hay chính họ?
Verse 27
Quả thật, TA rút con lạc đà cái ra từ tảng đá và gởi đến họ để thử thách họ, cho nên Ngươi - hỡi Saleh - hãy chờ đợi, quan sát xem họ sẽ làm gì nó và nó sẽ làm gì họ và Ngươi hãy cố nhẫn nại trước mọi khó khăn họ gây ra cho Ngươi.
Verse 28
Và Ngươi (Saleh) hãy cho họ biết nước giếng của họ phải chia đôi với con lạc đà, một ngày của nó và một ngày của họ, vào ngày của bên nào thì chỉ bên đó mới được lấy nước.
Verse 29
ﭛﭜﭝﭞ
ﭟ
Rồi họ kêu gọi một người của họ đến giết con lạc đà, và y đã cầm kiếm sát hại con lạc đà, thực thi theo lệnh của dân chúng của y.
Verse 30
ﭠﭡﭢﭣ
ﭤ
Các ngươi - hỡi dân Makkah - hãy suy ngẫm xem sự trừng phạt của TA ra sao đối với kẻ phủ nhận? Và lời răn đe về việc hủy diệt họ đã như thế nào?
Verse 31
Và rồi TA đã giáng lên họ một tiếng gầm thét, thế là đã tiêu diệt sạch bọn họ, hình ảnh của họ giống như những cây cỏ khô trên những cánh đồng cho súc vật ăn vậy.
Verse 32
Và quả thật TA đã làm cho Qur'an dễ dàng để ghi nhớ và để răn đe, vậy có ai biết khắc ghi những lời răn đe đó chăng?
Verse 33
ﭶﭷﭸﭹ
ﭺ
Dân chúng của Lut đã phủ nhận lời khuyên bảo và răn đe của Thiên Sứ Lut dành cho họ.
Verse 34
Quả thật, TA đã trừng phạt họ bằng cơn gió mang theo đá ném vào họ, ngoại trừ gia đình của Lut không bị trừng phạt, TA đã cứu họ được bình an lúc cuối đêm.
Verse 35
Việc TA cứu vớt họ thoát khỏi Hỏa Ngục là một ân huệ dành cho họ, tương tự như phần thưởng dành cho Lut, TA cũng ban thưởng cho những ai biết tri ơn ân huệ mà Allah đã ban.
Verse 36
ﮏﮐﮑﮒﮓ
ﮔ
Và trước đây họ đã được Lut cảnh báo về hình phạt của TA nhưng họ đã không tin và đã phủ nhận nó.
Verse 37
Và chúng đã từng yêu cầu Lut để mặc chúng và những vị khách của Người là nhóm Thiên Thần để chúng tự do làm chuyện đồi bại, thế là họ bị TA cướp đi đôi mắt khiến chúng không thấy gì và TA bảo chúng: Các ngươi hãy nếm hình phạt của TA và hậu quả của lời cảnh báo các ngươi của TA đến với các ngươi.
Verse 38
ﮟﮠﮡﮢﮣ
ﮤ
Và TA đã trừng phạt chúng vào buổi sáng tinh mơ, nó liên hồi kéo dài mãi đến sự trừng phạt ở Đời Sau.
Verse 39
ﮥﮦﮧ
ﮨ
Và có lời bảo chúng: Các ngươi hãy nếm hình phạt mà TA đã giáng lên các ngươi và hậu quả cho lời cảnh báo của Lut dành cho các ngươi.
Verse 40
Và quả thật TA đã làm cho Qur'an dễ dàng để ghi nhớ và để răn đe, vậy có ai biết khắc ghi những lời răn đe đó chăng?
Verse 41
ﮱﯓﯔﯕﯖ
ﯗ
Và bè lũ của Fir'awn đã được Musa và Harun cảnh báo chúng.
Verse 42
Chúng đã bác bỏ hết tất cả bằng chứng được gởi đến từ TA, nên chúng đã bị TA trừng phạt về tội bác bỏ đó bằng sức mạnh của Đấng Toàn Năng, không ai cưỡng lại được, và không ai tránh khỏi.
Verse 43
Phải chẳng đám người đa thần các ngươi - hỡi dân Makkah - tốt hơn những đám người vô đức tin đã được đề cập như dân của Nuh, dân của 'Ad, dân của Thamud, dân của Lut, cả tên Fir'awn và bè lũ của hắn ư? Hoặc phải chăng các ngươi vô can với những hình phạt của Allah được ghi chép trong các Kinh Sách đã được thiên khải trước đây?
Verse 44
ﯫﯬﯭﯮﯯ
ﯰ
Phải chăng đám người đa thần ở Makkah cho là tất cả chúng là một tập thể đoàn kết chống lại mọi thế lực muốn gây hại và chia rẽ chúng ư?
Verse 45
ﯱﯲﯳﯴ
ﯵ
Rồi khối liên minh đa thần này sẽ sớm thất bại và quay lưng bỏ chạy trước mặt những người tin tưởng như đã từng xảy ra trong Ngày Badr.
Verse 46
ﯶﯷﯸﯹﯺﯻ
ﯼ
Không đâu, Giờ Tận Thế mà họ đã phủ nhận chính là điểm hẹn để trừng phạt bọn họ, và Giờ Tận Thế sẽ khắc nghiệt hơn, khủng khiếp hơn hình phạt ở trần gian ở Ngày Badr.
Verse 47
ﯽﯾﯿﰀﰁ
ﰂ
Chắc hẳn đám người tội lỗi và vô đức tin sẽ bị lệch khỏi chân lý và chịu sự trừng phạt.
Verse 48
Ngày mà họ sẽ lôi úp mặt vào Hỏa Ngục và có lời bảo miệt thị họ: Các ngươi hãy nếm đi hình phạt của lửa.
Verse 49
ﰍﰎﰏﰐﰑ
ﰒ
Tất cả vạn vật trong vũ trụ đều được TA tạo hóa dựa trên sự tiền định, tất cả đều đúng như ý muốn và kế hoạch của TA, tất cả mọi thứ đều trùng khớp với mọi thứ TA ghi chép trong Quyển Sổ Mẹ (Bản Văn Lưu Trữ).
Verse 50
ﭑﭒﭓﭔﭕﭖ
ﭗ
Và khi TA muốn bất cứ gì thì chỉ cần TA phán một từ duy nhất, đó là: "Kun" (hãy thành) thì lập tức nó sẽ thành lập tức, nhanh như một cái chớp mắt.
Verse 51
ﭘﭙﭚﭛﭜﭝ
ﭞ
Và trước đây TA đã tiêu diệt những thế hệ vô đức tin như các ngươi, vậy có ai biết lấy đó làm bài học mà tránh đi hành động vô đức tin không?
Verse 52
ﭟﭠﭡﭢﭣ
ﭤ
Và tất cả những gì con người làm đều được ghi chép lại chi tiết, không thiếu sót bất cứ điều gì.
Verse 53
ﭥﭦﭧﭨ
ﭩ
Và tất cả mọi việc nhỏ như lời nói hay hành động, cũng như việc lớn đều được ghi chép vào sổ lưu trữ và trong Quyển Sổ mẹ, rồi dựa vào đó Allah sẽ thưởng phạt.
Verse 54
ﭪﭫﭬﭭﭮ
ﭯ
Quả thật, những người kính sợ Thượng Đế của họ qua việc phục tùng mọi mệnh lệnh của Ngài sẽ được ở trong các Ngôi Vườn Thiên Đàng với những dòng sông chảy, họ sẽ hưởng thụ trong đó.
Verse 55
ﭰﭱﭲﭳﭴﭵ
ﭶ
Tại nơi toàn những lời chân thật, không có lời nói nhảm nhí và tội lỗi, được ở cùng Đấng Chúa Tể Toàn Năng nắm mọi vương quyền, Quyền Năng của Ngài vượt lên trên tất cả, không ai bị tra hỏi về sự hưởng thụ trường tồn trong đó.
تقدم القراءة