Bản dịch Surah الشعراء bằng الفيتنامية từ الترجمة الفيتنامية - مركز رواد الترجمة
Verse 1
ﭑ
ﭒ
Ta. Sin. Mim.
Verse 2
ﭓﭔﭕﭖ
ﭗ
Đó là những Câu Kinh của một Kinh Sách minh bạch (không mơ hồ và thần bí).
Verse 3
ﭘﭙﭚﭛﭜﭝ
ﭞ
Có lẽ Ngươi (Thiên Sứ Muhammad) khổ tâm, đau buồn khiến bản thân chết dần chết mòn về việc họ không có đức tin.
Verse 4
Nếu muốn, TA (Allah) có thể ban một phép lạ từ trên trời xuống khiến họ cúi cổ thần phục, (nhưng TA không làm thế vì để thử thách họ xem họ có tin vào điều vô hình hay không).
Verse 5
Bất cứ điều nhắc nhở nào được ban xuống cho họ từ Đấng Độ Lượng, họ đều quay lưng bỏ đi.
Verse 6
Quả thật, họ đã phủ nhận (những điều mà Thiên Sứ của họ đã mang đến), rồi đây họ sẽ nhận được tin về những điều mà họ đã từng chế giễu.
Verse 7
Lẽ nào họ đã không quan sát trái đất, nơi mà TA đã làm mọc ra biết bao cây cối tốt lành?
Verse 8
Quả thật, trong đó là một bằng chứng (cho việc TA thừa khả năng làm người chết sống lại), tuy nhiên, đa số bọn họ không có đức tin.
Verse 9
ﮖﮗﮘﮙﮚ
ﮛ
Quả thật, Thượng Đế của Ngươi (hỡi Thiên Sứ Muhammad) là Đấng Quyền Lực, Nhân Từ.
Verse 10
(Ngươi hãy nhớ lại) khi Thượng Đế của Ngươi gọi Musa phán bảo: “Ngươi hãy đi gặp một đám người làm điều sai quấy.”
Verse 11
ﮥﮦﮧﮨﮩ
ﮪ
“Đó là đám người của Pha-ra-ông. (Ngươi hãy bảo) họ sợ (Allah).”
Verse 12
ﮫﮬﮭﮮﮯﮰ
ﮱ
(Musa) thưa: “Lạy Thượng Đế của bề tôi, bề tôi thực sự lo sợ rằng họ sẽ cho bề tôi nói dối.”
Verse 13
“Và lồng ngực của bề tôi thì chật hẹp, chiếc lưỡi của bề tôi thì nói không lưu loát, xin Ngài cử thêm Harun làm phò tá cho bề tôi.”
Verse 14
ﯜﯝﯞﯟﯠﯡ
ﯢ
“Bề tôi đã phạm tội với họ (vì đã lỡ tay giết chết một người của họ) nên bề tôi sợ họ sẽ giết bề tôi.”
Verse 15
(Allah) phán bảo (Musa và Harun): “Sẽ không sao, hai ngươi cứ lên đường với những Phép Lạ của TA. Quả thật TA sẽ ở cùng với hai ngươi, TA luôn nghe thấy tất cả.”
Verse 16
“Hai Ngươi cứ đi gặp Pha-ra-ông, hai ngươi hãy nói với y: Chúng tôi là Thiên Sứ của Thượng Đế của vũ trụ và muôn loài.”
Verse 17
ﯵﯶﯷﯸﯹ
ﯺ
“Xin ngài hãy để con cháu Israel ra đi với chúng tôi.”
Verse 18
(Pha-ra-ông) bảo (Musa): “Há ta đã không thương yêu và nuôi nấng Ngươi như con cái hay sao? Chẳng phải Ngươi đã ở với ta nhiều năm trong đời Ngươi hay sao?”
Verse 19
“Vậy mà Ngươi đã nhẫn tâm làm một việc đáng lẽ ra Ngươi không nên làm, Ngươi là một tên vong ơn bội nghĩa.”
Verse 20
ﭑﭒﭓﭔﭕﭖ
ﭗ
(Musa) nói (với Pha-ra-ông): “Tôi đã làm điều đó lúc tôi là kẻ không biết gì (vì chưa nhận được sự mặc khải của Allah).”
Verse 21
“Vì sợ ngài nên Tôi đã bỏ trốn đi xa và Thượng Đế của Tôi đã ban cho Tôi sự khôn ngoan và cử Tôi làm Thiên Sứ (của Ngài).”
Verse 22
“Đấy là ân xưa mà ngài đã nại ra để khiển trách Tôi rồi đã bắt người dân Israel làm nô lệ.”
Verse 23
ﭭﭮﭯﭰﭱ
ﭲ
Pha-ra-ông hỏi (Musa): “Thế Thượng Đế của vũ trụ và muôn loài là gì?”
Verse 24
(Musa) đáp: “Là Thượng Đế của các tầng trời, trái đất và vạn vật giữa trời đất, nếu quí ngài muốn có đức tin vững chắc (nơi Ngài thì quí ngài hãy chỉ thờ phượng một mình Ngài thôi).”
Verse 25
ﭾﭿﮀﮁﮂ
ﮃ
(Pha-ra-ông) nói với các cận thần: “Các khanh có nghe rõ (lời bịa đặt của Musa) chăng?”
Verse 26
ﮄﮅﮆﮇﮈ
ﮉ
(Musa) nói tiếp: “Đó là Thượng Đế của quí ngài và cả tổ tiên của quí ngài nữa.”
Verse 27
(Pha-ra-ông) bảo: “Chắc chắn Thiên Sứ được gởi đến cho các ngươi là một tên điên!”
Verse 28
(Musa) nói tiếp: “Đó là Thượng Đế của hướng đông, hướng tây và vạn vật giữa hai hướng đó, nếu quí ngài nhận thức được.”
Verse 29
(Pha-ra-ông) nói với (Musa): “Nếu nhà Ngươi quyết tôn thờ một Thượng Đế khác ngoài ta thì chắc chắn ta sẽ cho nhà Ngươi bị tù đày.”
Verse 30
ﮦﮧﮨﮩﮪ
ﮫ
(Musa) nói với (Pha-ra-ông): “Ngay cả khi tôi mang đến cho ngài một điều gì đó chứng minh rõ ràng ư?”
Verse 31
(Pha-ra-ông) nói: “Vậy nhà Ngươi hãy trình nó ra xem nếu nhà Ngươi đúng là một người nói thật.”
Verse 32
ﯕﯖﯗﯘﯙﯚ
ﯛ
Thề là Musa ném chiếc gậy của Y xuống, nó lập tức biến thành một con rắn hiển hiện.
Verse 33
ﯜﯝﯞﯟﯠﯡ
ﯢ
Và khi Y rút bàn tay của Y ra (sau khi áp nó vào ba sườn), bàn tay của Y trở nên trắng sáng trước những người chứng kiến.
Verse 34
(Pha-ra-ông) quay sang bảo các cận thần: “Tên này quả nhiên là một phù thủy tài giỏi.”
Verse 35
“Hắn định dùng pháp thuật để đánh đuổi các khanh ra khỏi lãnh thổ của các khanh. Vậy các khanh có ý xử trí hắn ra sao?”
Verse 36
(Các cận thần của Pha-ra-ông) thưa: “Hãy tạm tha cho hắn và người anh em của hắn, chúng ta sẽ tập hợp các pháp sư trong các thành phố lại.”
Verse 37
ﯼﯽﯾﯿ
ﰀ
“Tất cả những nhà phù thủy tài giỏi sẽ đến trình diện bệ hạ.”
Verse 38
ﰁﰂﰃﰄﰅ
ﰆ
Vậy là các phù thủy được triệu tập tại một nơi hẹn vào một ngày đã được công bố rõ ràng.
Verse 39
ﰇﰈﰉﰊﰋ
ﰌ
Và mọi người bảo nhau: “Các người không đi dự đại hội (để xem ai thắng trong cuộc so tài giữa Musa và các phù thủy) sao?”
Verse 40
“Có lẽ chúng ta sẽ theo các nhà phù thủy nếu họ thắng cuộc.”
Verse 41
Khi đến nơi, những nhà phù thủy thưa với Pha-ra-ông: “Nếu chúng tôi thắng thì chúng tôi có được ban thưởng không?”
Verse 42
ﭦﭧﭨﭩﭪﭫ
ﭬ
(Pha-ra-ông) bảo: “Chắc chắn có, nhất định lúc đó các ngươi sẽ trở thành các cận thần của ta.”
Verse 43
Musa bảo (các phù thủy): “Quí ngài hãy ném bảo bối của quí ngài xuống.”
Verse 44
Thế là, họ ném những sợi dây và chiếc gậy của họ xuống, nói: “Với quyền lực của Pha-ra-ông, chúng tôi chắc chắn sẽ chiến thắng.”
Verse 45
Nhưng khi Musa ném chiếc gậy của Y xuống, nó nuốt mất những món vật mà họ đã làm giả.
Verse 46
ﮈﮉﮊ
ﮋ
Lúc đó, những tên phù thủy liền cúi xuống quỳ lạy.
Verse 47
ﮌﮍﮎﮏ
ﮐ
Họ nói: “Chúng tôi đã có đức tin nơi Thượng Đế của vũ trụ và muôn loài.”
Verse 48
ﮑﮒﮓ
ﮔ
“Thượng Đế của Musa và Harun.”
Verse 49
(Thấy thế), Pha-ra-ông quát (các nhà phù thủy): “Các ngươi dám tin hắn trước khi ta cho phép các ngươi ư? Hắn quả nhiên là tên cầm đầu của các ngươi; hắn đã dạy các ngươi pháp thuật; rồi các ngươi sẽ sớm biết hậu quả. Chắc chắn, ta sẽ cho chặt tay này và chân kia của các ngươi và sẽ cho đóng đinh toàn bộ các ngươi trên thập tự giá.”
Verse 50
(Các nhà phù thủy) trả lời (Pha-ra-ông): “Chẳng có gì thiệt hại cả, bởi vì rồi đây chúng tôi sẽ quay về gặp Thượng Đế của chúng tôi mà thôi.”
Verse 51
“Chúng tôi kỳ vọng Thượng Đế của chúng tôi sẽ tha thứ cho chúng tôi những lỗi lầm của chúng tôi bởi vì chúng tôi là những người có đức tin đầu tiên.”
Verse 52
TA đã mặc khải cho Musa, phán: “Ngươi hãy dẫn hết đám bề tôi của TA rời đi ban đêm, quả thật các ngươi sẽ bị truy sát.”
Verse 53
ﯭﯮﯯﯰﯱ
ﯲ
Rồi Pha-ra-ông cho quân lính loan tin đi khắp các thành phố.
Verse 54
ﯳﯴﯵﯶ
ﯷ
“Quả thật, đám dân (Israel) này chỉ là một nhóm nhỏ bé.”
Verse 55
ﯸﯹﯺ
ﯻ
“Chúng thực sự đã phạm tội khi quân vì đã chọc giận ta.”
Verse 56
ﯼﯽﯾ
ﯿ
“Nhưng ta đã luôn cảnh giác đề phòng chúng.”
Verse 57
ﰀﰁﰂﰃ
ﰄ
Bởi thế, TA (Allah) đã tống bọn chúng (Pha-ra-ông và quân lính của hắn) ra khỏi hoa viên và suối nước.
Verse 58
ﰅﰆﰇ
ﰈ
Khỏi những kho tàng châu báu và địa vị cao sang.
Verse 59
ﰉﰊﰋﰌﰍ
ﰎ
Giống như thế, TA đã cho dân Israel thừa kế (những thứ tốt đẹp đó).
Verse 60
ﰏﰐ
ﰑ
Rồi (Pha-ra-ông và quân lính của hắn) truy đuổi họ (dân Israel) vào lúc hừng đông.
Verse 61
Khi hai đoàn người đối diện nhau, các tông đồ của Musa nói: “Chắc chắn chúng ta sẽ bị đuổi kịp.”
Verse 62
(Musa) bảo: “Không đâu, Thượng Đế của Ta luôn sát cánh bên Ta, Ngài sẽ hướng dẫn Ta thôi.”
Verse 63
Ngay lúc đó, TA mặc khải cho Musa, phán: “Ngươi hãy đánh cây gậy của Ngươi xuống mặt biển.” (Y làm theo), tức khắc biển tách ra làm đôi thành những tảng nước hai bên như hai ngọn núi khổng lồ.
Verse 64
ﭱﭲﭳ
ﭴ
TA đẩy đám người kia (Pha-ra-ông và quân lính của hắn) đến gần nơi đó.
Verse 65
ﭵﭶﭷﭸﭹ
ﭺ
Và TA đã cứu nguy Musa và toàn bộ những ai theo Y.
Verse 66
ﭻﭼﭽ
ﭾ
Rồi TA nhấn chìm đám người kia.
Verse 67
Quả thật, trong sự việc đó là một bằng chứng (cho sự trung thực của Musa) nhưng đa số bọn họ không có đức tin.
Verse 68
ﮉﮊﮋﮌﮍ
ﮎ
Và Thượng Đế của Ngươi đích thực là Đấng Quyền Lực, Nhân Từ.
Verse 69
ﮏﮐﮑﮒ
ﮓ
Ngươi (hỡi Thiên Sứ Muhammad) hãy đọc cho họ nghe về câu chuyện của Ibrahim.
Verse 70
ﮔﮕﮖﮗﮘﮙ
ﮚ
Khi (Ibrahim) thưa với phụ thân và người dân của mình: “Các người đang thờ phượng gì thế kia?”
Verse 71
ﮛﮜﮝﮞﮟﮠ
ﮡ
Họ đáp: “Bọn ta đang thờ các bục tượng, bọn ta rất sùng kính các thần linh này.”
Verse 72
ﮢﮣﮤﮥﮦ
ﮧ
(Ibrahim) hỏi: “Các bục tượng đó có nghe được các người khi các người cầu xin chúng không?”
Verse 73
ﮨﮩﮪﮫ
ﮬ
“Hoặc chúng có giúp ích hay hãm hại được các người không?”
Verse 74
ﮭﮮﮯﮰﮱﯓ
ﯔ
Họ đáp: “Không, nhưng bọn ta thấy cha mẹ của bọn ta đã làm như vậy.”
Verse 75
ﯕﯖﯗﯘﯙ
ﯚ
(Ibrahim) bảo: “Những thứ mà các người đang tôn thờ”
Verse 76
ﯛﯜﯝ
ﯞ
“Và cả những thứ mà tổ tiên xa xưa của các người đã tôn thờ”
Verse 77
ﯟﯠﯡﯢﯣﯤ
ﯥ
“Đều là kẻ thù của Ta ngoại trừ Thượng Đế của vũ trụ và muôn loài.”
Verse 78
ﯦﯧﯨﯩ
ﯪ
“Ngài là Đấng đã tạo ra Ta rồi hướng dẫn Ta.”
Verse 79
ﯫﯬﯭﯮ
ﯯ
“Ngài là Đấng đã cho Ta ăn và cho Ta uống.”
Verse 80
ﯰﯱﯲﯳ
ﯴ
“Khi Ta bệnh thì Ngài là Đấng cho Ta khỏi bệnh.”
Verse 81
ﯵﯶﯷﯸ
ﯹ
“Ngài là Đấng làm cho Ta chết rồi làm cho Ta sống lại.”
Verse 82
“Ngài là Đấng mà Ta hy vọng sẽ được tha thứ về những tội lỗi của Ta vào Ngày Phán Xét.”
Verse 83
ﰃﰄﰅﰆﰇﰈ
ﰉ
“Lạy Thượng Đế của bề tôi, xin Ngài ban cho bề tôi sự khôn ngoan và xin Ngài nhập bề tôi cùng với những người đức hạnh.”
Verse 84
ﭑﭒﭓﭔﭕﭖ
ﭗ
“Xin Ngài vinh danh bề tôi trên chiếc lưỡi của những thế hệ mai sau.”
Verse 85
ﭘﭙﭚﭛﭜ
ﭝ
“Xin Ngài làm cho bề tôi thành một người thừa kế Thiên Đàng Hạnh phúc.”
Verse 86
ﭞﭟﭠﭡﭢﭣ
ﭤ
“Xin Ngài tha thứ cho phụ thân của bề tôi bởi ông ấy là một người lầm lạc.”
Verse 87
ﭥﭦﭧﭨ
ﭩ
“Xin Ngài đừng hạ nhục bề tôi vào Ngày nhân loại được phục sinh.”
Verse 88
ﭪﭫﭬﭭﭮﭯ
ﭰ
“Đó là Ngày mà của cải cũng như con cái sẽ không giúp ích được gì.”
Verse 89
ﭱﭲﭳﭴﭵﭶ
ﭷ
“Ngoại trừ những ai đến với Allah bằng một tấm lòng trong sạch.”
Verse 90
ﭸﭹﭺ
ﭻ
Thiên Đàng sẽ được mang đến gần những người ngoan đạo.
Verse 91
ﭼﭽﭾ
ﭿ
Hỏa Ngục sẽ được mang đến trước mặt những kẻ lầm lạc.
Verse 92
ﮀﮁﮂﮃﮄﮅ
ﮆ
Có lời bảo họ: “Đâu là những thứ mà các ngươi đã tôn thờ”
Verse 93
“Thay vì Allah? Liệu chúng có khả năng giải cứu các ngươi hoặc tự cứu lấy bản thân chúng được không?”
Verse 94
ﮏﮐﮑﮒ
ﮓ
Bởi thế, chúng cùng với đám quỷ quái sẽ bị lùa vào Hỏa Ngục.
Verse 95
ﮔﮕﮖ
ﮗ
Và toàn bộ binh tướng của Iblis cũng thế.
Verse 96
ﮘﮙﮚﮛ
ﮜ
Và trong lúc cãi vã nhau trong (Hỏa Ngục), họ sẽ nói:
Verse 97
ﮝﮞﮟﮠﮡﮢ
ﮣ
“Thề với Allah, chúng tôi rõ ràng là nhóm người lầm lạc.”
Verse 98
ﮤﮥﮦﮧ
ﮨ
“Khi mà chúng tôi đã suy tôn các ngươi ngang vai với Thượng Đế của vũ trụ và muôn loài.”
Verse 99
ﮩﮪﮫﮬ
ﮭ
“Và chỉ những tên tội lỗi mới dắt chúng tôi đi lạc.”
Verse 100
ﮮﮯﮰﮱ
ﯓ
“Thế là chúng tôi chẳng có ai can thiệp.”
Verse 101
ﯔﯕﯖ
ﯗ
“Chúng tôi cũng chẳng có một người bạn chân tình nào cả.”
Verse 102
“Nếu có cơ hội trở lại (trần thế) lần nữa thì chúng tôi sẽ là những người có đức tin.”
Verse 103
Quả thật, trong sự việc đó là một dấu hiệu, nhưng đa số bọn họ không có đức tin.
Verse 104
ﯪﯫﯬﯭﯮ
ﯯ
Quả thật, Thượng Đế của Ngươi là Đấng Quyền Lực, Nhân Từ.
Verse 105
ﯰﯱﯲﯳ
ﯴ
Người dân của Nuh đã chối bỏ tất cả Thiên Sứ (của Allah).
Verse 106
Khi Nuh, người anh em của họ bảo họ: “Các người không sợ (Allah) sao?”
Verse 107
ﯽﯾﯿﰀ
ﰁ
“Ta đúng thực là Thiên Sứ đáng tin được (Allah) phái đến cho các người.”
Verse 108
ﰂﰃﰄ
ﰅ
“Thế nên, các người hãy kính sợ Allah và vâng lời Ta.”
Verse 109
“Ta không đòi các người trả thù lao cho việc đó mà chính Thượng Đế của vũ trụ và muôn loài sẽ ân thưởng cho Ta.”
Verse 110
ﰓﰔﰕ
ﰖ
“Thế nên, các người hãy kính sợ Allah và vâng lời Ta.”
Verse 111
ﰗﰘﰙﰚﰛﰜ
ﰝ
Họ (đáp lại lời kêu gọi của Nuh), nói :“Lẽ nào bọn ta lại phải tin ngươi trong khi những kẻ đi theo ngươi toàn là những tên bần cùng?!”
Verse 112
ﭑﭒﭓﭔﭕﭖ
ﭗ
(Nuh) bảo: “Ta không biết điều họ đã từng làm.”(1)
____________________
(1) Ý của Nuh: “Ta không nhất thiết phải quan tâm đến hoàn cảnh của họ, những ai đã theo Ta. Ta chỉ có nhiệm vụ là chấp nhận sự thành tâm và trung thực của họ, còn những điều bí mật ở nơi họ thì Ta phó mặc cho Allah, nó thuộc thẩm quyền của Ngài.”
____________________
(1) Ý của Nuh: “Ta không nhất thiết phải quan tâm đến hoàn cảnh của họ, những ai đã theo Ta. Ta chỉ có nhiệm vụ là chấp nhận sự thành tâm và trung thực của họ, còn những điều bí mật ở nơi họ thì Ta phó mặc cho Allah, nó thuộc thẩm quyền của Ngài.”
Verse 113
“Việc phán xét họ là ở thẩm quyền nơi Thượng Đế của Ta, nếu các người cảm nhận được.”
Verse 114
ﭡﭢﭣﭤ
ﭥ
“Ta không có quyền xua đuổi những người có đức tin.”
Verse 115
ﭦﭧﭨﭩﭪ
ﭫ
“Quả thật Ta chỉ là một người cảnh báo công khai mà thôi.”
Verse 116
Họ (dọa Nuh), bảo: “Này Nuh, nếu ngươi không chịu dừng lại, bọn ta sẽ ném đá giết chết ngươi.”
Verse 117
ﭵﭶﭷﭸﭹ
ﭺ
Nuh cầu nguyện: “Lạy Thượng Đế của bề tôi, đám dân của bề tôi đã phủ nhận bề tôi.”
Verse 118
“Xin Ngài mở lối giữa bề tôi và họ, xin Ngài giải cứu bề tôi và những người có đức tin đã đi theo bề tôi.”
Verse 119
ﮅﮆﮇﮈﮉﮊ
ﮋ
Thế là TA đã giải cứu (Nuh) và những ai đi theo Y trên một chiếc tàu đầy ắp.
Verse 120
ﮌﮍﮎﮏ
ﮐ
Rồi TA nhấn chìm toàn bộ đám người còn lại (trong biển nước của trận đại hồng thủy).
Verse 121
Quả thật, trong sự việc đó là một dấu hiệu (làm bài học cho những ai phủ nhận Thiên Sứ của Allah), tuy nhiên, đa số bọn họ không có đức tin.
Verse 122
ﮛﮜﮝﮞﮟ
ﮠ
Quả thật, Thượng Đế của Ngươi là Đấng Quyền Lực, Nhân Từ.
Verse 123
ﮡﮢﮣ
ﮤ
Người dân ‘Ad đã chối bỏ tất cả Thiên Sứ (của Allah).
Verse 124
Khi Hud, người anh em của họ bảo họ: “Các người không sợ (Allah) sao?”
Verse 125
ﮭﮮﮯﮰ
ﮱ
“Ta đúng thực là Thiên Sứ đáng tin được (Allah) phái đến cho các người.”
Verse 126
ﯓﯔﯕ
ﯖ
“Thế nên, các người hãy kính sợ Allah và vâng lời Ta.”
Verse 127
“Ta không đòi các người trả thù lao cho việc đó mà chính Thượng Đế của vũ trụ và muôn loài sẽ ân thưởng cho Ta.”
Verse 128
ﯤﯥﯦﯧﯨ
ﯩ
“Phải chăng các người đã xây cất trên cao (những ngôi nhà kiêng cố) để khoe khoang ư?”
Verse 129
ﯪﯫﯬﯭ
ﯮ
“Lẽ nào các người xây cất những lâu đài kiên cố để mong ở trong đó vĩnh viễn?”
Verse 130
ﯯﯰﯱﯲ
ﯳ
“Và khi các người đàn áp, các người đàn áp như những bạo chúa.”
Verse 131
ﯴﯵﯶ
ﯷ
“Các người hãy kính sợ Allah và vâng lời Ta.”
Verse 132
ﯸﯹﯺﯻﯼ
ﯽ
“Các người hãy sợ Đấng đã trợ giúp các người biết bao thiên ân mà các người biết.”
Verse 133
ﯾﯿﰀ
ﰁ
“Ngài đã ban cho các người gia súc và con cái.”
Verse 134
ﰂﰃ
ﰄ
“(Ngài đã ban cho các người) vườn tược và suối nước.”
Verse 135
ﰅﰆﰇﰈﰉﰊ
ﰋ
“Ta thật sự lo sợ cho các người về sự trừng phạt của một Ngày Vĩ Đại.”
Verse 136
(Đám dân của Hud đáp lại lời kêu gọi của Y), nói: “Dù ngươi có cảnh báo hay không cảnh báo, điều đó cũng bằng thừa đối với bọn ta mà thôi.”
Verse 137
ﭑﭒﭓﭔﭕ
ﭖ
“Đây đúng là phong cách và lối suy nghĩ của người xưa.”
Verse 138
ﭗﭘﭙ
ﭚ
“Và bọn ta chắc chắn sẽ không bị trừng phạt.”
Verse 139
Thế là họ chối bỏ Y nên đã bị tiêu diệt. Quả thật, trong sự việc đó là một dấu hiệu, nhưng đa số bọn họ không có đức tin.
Verse 140
ﭨﭩﭪﭫﭬ
ﭭ
Quả thật Thượng Đế của Ngươi là Đấng Quyền Lực, Nhân Từ.
Verse 141
ﭮﭯﭰ
ﭱ
Người dân Thamud đã chối bỏ tất cả Thiên Sứ (của Allah).
Verse 142
Khi Saleh, người anh em của họ bảo họ: “Các người không sợ (Allah) sao?”
Verse 143
ﭺﭻﭼﭽ
ﭾ
“Ta đúng thực là Thiên Sứ đáng tin được (Allah) phái đến cho các người.”
Verse 144
ﭿﮀﮁ
ﮂ
“Thế nên, các người hãy kính sợ Allah và vâng lời Ta.”
Verse 145
“Ta không đòi các người trả thù lao cho việc đó mà chính Thượng Đế của vũ trụ và muôn loài sẽ ân thưởng cho Ta.”
Verse 146
ﮐﮑﮒﮓﮔ
ﮕ
“Lẽ nào các người sẽ được an toàn hưởng thụ những tiện nghi hiện có nơi đây?”
Verse 147
ﮖﮗﮘ
ﮙ
“Trong những ngôi vườn và suối nước?”
Verse 148
ﮚﮛﮜﮝ
ﮞ
“Với những nương rẫy và vườn chà là kết trái chín mộng?”
Verse 149
ﮟﮠﮡﮢﮣ
ﮤ
“Và các người giỏi đục núi xây nhà kiêng cố.”
Verse 150
ﮥﮦﮧ
ﮨ
“Các người hãy kính sợ Allah và vâng lời Ta.”
Verse 151
ﮩﮪﮫﮬ
ﮭ
“Các người chớ nghe theo mệnh lệnh của những kẻ thái quá.”
Verse 152
ﮮﮯﮰﮱﯓﯔ
ﯕ
“Họ là những kẻ làm điều xấu xa và tội lỗi khắp nơi nhưng không chịu sửa mình.”
Verse 153
ﯖﯗﯘﯙﯚ
ﯛ
(Đám dân của Saleh đáp lại lời kêu gọi của Y), nói: “Ngươi đúng là đã bị trúng tà.”
Verse 154
“Ngươi chẳng qua cũng chỉ là một người phàm như bọn ta. Nhưng nếu ngươi nói thật thì ngươi hãy mang ra cho bọn ta thứ gì đó chứng minh xem nào.”
Verse 155
(Saleh) bảo họ: “Đây là con lạc đà cái (mà Allah đã mang nó ra từ tảng đá), nó sẽ uống phần nước của nó và các người sẽ uống phần nước của các người vào ngày được ấn định.”
Verse 156
“Các người không được làm hại đến nó, nếu không các người sẽ bị trừng phạt vào một Ngày Vĩ Đại.”
Verse 157
ﯺﯻﯼ
ﯽ
Nhưng rồi họ đã đâm cổ nó và tỏ ra hối hận sau đó.
Verse 158
Thế là họ đã bị hình phạt túm lấy. Quả thật, trong sự việc đó là một dấu hiệu (bài học cho những ai phủ nhận và không vâng lời các vị Thiên Sứ của Allah); tuy nhiên, đa số bọn họ không có đức tin.
Verse 159
ﰋﰌﰍﰎﰏ
ﰐ
Quả thật, Thượng Đế của Ngươi là Đấng Quyền Lực, Nhân Từ.
Verse 160
ﭑﭒﭓﭔ
ﭕ
Người dân của Lut đã chối bỏ tất cả Thiên Sứ (của Allah).
Verse 161
Khi Lut, người anh em của họ bảo họ: “Các người không sợ (Allah) sao?”
Verse 162
ﭞﭟﭠﭡ
ﭢ
“Ta đúng thực là Thiên Sứ đáng tin được (Allah) phái đến cho các người.”
Verse 163
ﭣﭤﭥ
ﭦ
“Thế nên, các người hãy kính sợ Allah và vâng lời Ta.”
Verse 164
“Ta không đòi các người trả thù lao cho việc đó mà chính Thượng Đế của vũ trụ và muôn loài sẽ ân thưởng cho Ta.”
Verse 165
ﭴﭵﭶﭷ
ﭸ
“Sao các người lại tìm đến đàn ông trong vũ trụ này để thỏa mãn tình dục,”
Verse 166
“Và bỏ rơi những người mà Thượng Đế của các người đã tạo ra cho các người để làm vợ? Không, các người thực sự là những kẻ thái quá.”
Verse 167
(Đám dân của Lut dọa Y), bảo: “Này Lut, nếu ngươi không chịu dừng lại, bọn ta sẽ trục xuất ngươi ra khỏi xứ.”
Verse 168
ﮏﮐﮑﮒﮓ
ﮔ
(Lut) nói với họ: “Ta là một người căm ghét việc làm của các người.”
Verse 169
ﮕﮖﮗﮘﮙ
ﮚ
(Lut cầu nguyện): “Lạy Thượng Đế của bề tôi, xin Ngài giải cứu bề tôi và gia đình của bề tôi thoát khỏi hành vi xấu của họ.”
Verse 170
ﮛﮜﮝ
ﮞ
Thế là TA (Allah) đã giải cứu Lut và toàn bộ gia đình của Y.
Verse 171
ﮟﮠﮡﮢ
ﮣ
Trừ vợ của Y (là kẻ vô đức tin), nữ ta sẽ ở cùng đám người bị trừng phạt.
Verse 172
ﮤﮥﮦ
ﮧ
Sau đó TA đã tiêu diệt toàn bộ đám người còn lại.
Verse 173
TA đã trừng phạt họ bằng một trận mưa khủng khiếp; đúng là một trận mưa kinh hoàng cho đám người được cảnh báo trước.
Verse 174
Quả thật, trong sự việc đó là một dấu hiệu (bài học cho những ai phủ nhận và không vâng lời các vị Thiên Sứ của Allah); tuy nhiên, đa số bọn họ không có đức tin.
Verse 175
ﯛﯜﯝﯞﯟ
ﯠ
Quả thật, Thượng Đế của Ngươi là Đấng Quyền Lực, Nhân Từ.
Verse 176
ﯡﯢﯣﯤ
ﯥ
Dân chúng Aikah (một khu rừng gần địa phận Madyan) đã chối bỏ tất cả Thiên Sứ (Allah).
Verse 177
ﯦﯧﯨﯩﯪﯫ
ﯬ
Khi Shu’aib bảo họ: “Các người không sợ (Allah) sao?”
Verse 178
ﯭﯮﯯﯰ
ﯱ
“Ta đúng thực là Thiên Sứ đáng tin được (Allah) phái đến cho các người.”
Verse 179
ﯲﯳﯴ
ﯵ
“Thế nên, các người hãy kính sợ Allah và vâng lời Ta.”
Verse 180
“Ta không đòi các người trả thù lao cho việc đó mà chính Thượng Đế của vũ trụ và muôn loài sẽ ân thưởng cho Ta.”
Verse 181
“Các người hãy đong cho đủ, chớ là những kẻ làm cho người khác mất mát (gian lận, đong không đủ khi bán).”
Verse 182
ﰋﰌﰍ
ﰎ
“Và khi cân các người hãy để cho bàn cân được ngay thẳng.”
Verse 183
“Các người chớ gian lận thiên hạ bằng cách cân thiếu và cũng chớ đi khắp trái đất để gieo rắc tội lỗi.”
Verse 184
ﭑﭒﭓﭔﭕ
ﭖ
“Các người hãy sợ Allah, Đấng đã tạo hóa các người và những thế hệ trước.”
Verse 185
ﭗﭘﭙﭚﭛ
ﭜ
(Đám dân Aikah đáp lại lời kêu gọi của Shu’aib), nói :“Quả thật, ngươi đã bị trúng tà.”
Verse 186
“Ngươi chẳng qua cũng chỉ là một người phàm như bọn ta và bọn ta nghĩ ngươi là tên nói dối.”
Verse 187
“Nhưng nếu ngươi nói thật thì ngươi hãy khiến cho một phần của bầu trời rơi xuống đè bọn ta thử xem nào.”
Verse 188
ﭱﭲﭳﭴﭵ
ﭶ
(Shu’aib) nói với họ: “Thượng Đế của Ta, Ngài biết rõ điều mà các người làm.”
Verse 189
Họ đã phủ nhận (Shu’aib). Cho nên, họ đã bị hình phạt túm lấy vào một ngày tối trời, đó là sự trừng phạt của một Ngày Vĩ Đại.
Verse 190
Quả thật, trong sự việc đó là một dấu hiệu (bài học cho những ai phủ nhận và không vâng lời các vị Thiên Sứ của Allah); tuy nhiên, đa số bọn họ không có đức tin.
Verse 191
ﮍﮎﮏﮐﮑ
ﮒ
Quả thật, Thượng Đế của Ngươi là Đấng Quyền Lực, Nhân Từ.
Verse 192
ﮓﮔﮕﮖ
ﮗ
Quả thật, Nó (Qur’an) đích thực được Thượng Đế của vũ trụ ban xuống.
Verse 193
ﮘﮙﮚﮛ
ﮜ
Do Ruh (đại Thiên Thần Jibril) đáng tin mang Nó xuống.
Verse 194
ﮝﮞﮟﮠﮡ
ﮢ
Đặt vào con tim của Ngươi (Thiên Sứ Muhammad) để Ngươi trở thành một Người cảnh báo.
Verse 195
ﮣﮤﮥ
ﮦ
Bằng tiếng Ả-rập rõ ràng.
Verse 196
ﮧﮨﮩﮪ
ﮫ
Nó quả thật đã được nhắc đến trong những Kinh Sách trước.
Verse 197
Lẽ nào không có một dấu hiệu nào cho (những kẻ phủ nhận) trong khi các học giả của dân Israel biết rõ Nó?
Verse 198
ﯗﯘﯙﯚﯛ
ﯜ
Nếu TA thực sự đã thiên khải Nó xuống cho một số người không phải dân Ả-rập.
Verse 199
ﯝﯞﯟﯠﯡﯢ
ﯣ
Rồi y đọc lại cho họ nghe thì chắc rằng họ đã không tin vào Nó.
Verse 200
ﯤﯥﯦﯧﯨ
ﯩ
Bằng cách đó, TA đã làm nó (sự vô đức tin) thấm nhuần vào tim của những kẻ tội lỗi.
Verse 201
Họ sẽ không tin tưởng Nó cho đến khi họ thấy được sự trừng phạt đau đớn.
Verse 202
ﯲﯳﯴﯵﯶ
ﯷ
Nó sẽ bất ngờ túm lấy họ trong lúc họ không hay biết.
Verse 203
ﯸﯹﯺﯻ
ﯼ
Lúc đó họ sẽ nói: “Chúng tôi có được gia hạn thêm không?”
Verse 204
ﯽﯾ
ﯿ
Vậy sao họ lại hối thúc hình phạt mau đến?
Verse 205
ﰀﰁﰂﰃ
ﰄ
Há Ngươi (hỡi Thiên Sứ Muhammad) có nhận thấy rằng việc TA cho họ hưởng lạc thêm nhiều năm nữa,
Verse 206
ﰅﰆﰇﰈﰉ
ﰊ
Rồi sau đó, hình phạt đã được hứa mới đến chụp bắt họ,
Verse 207
ﭑﭒﭓﭔﭕﭖ
ﭗ
Thì việc hưởng thụ đó chẳng giúp ích gì cho họ cả?
Verse 208
TA đã không tiêu diệt bất cứ ngôi làng nào ngoại trừ đã có những người đến cảnh báo nó.
Verse 209
ﭠﭡﭢﭣ
ﭤ
Như một sự nhắc nhở (đến cư dân của nó) bởi lẽ TA không hề bất công.
Verse 210
ﭥﭦﭧﭨ
ﭩ
(Qur’an) không phải do những tên Shaytan mang xuống.
Verse 211
ﭪﭫﭬﭭﭮ
ﭯ
Việc làm này không thích hợp cho chúng và chúng cũng không có khả năng (cho việc này).
Verse 212
ﭰﭱﭲﭳ
ﭴ
Quả thật chúng đã bị đuổi ra xa không được cho nghe (Qur’an).
Verse 213
Do đó, Ngươi chớ cầu nguyện bất cứ thần linh nào khác cùng với Allah, nếu không Ngươi sẽ cùng nhóm với đám người bị trừng phạt.
Verse 214
ﭿﮀﮁ
ﮂ
Ngươi (hỡi Thiên Sứ Muhammad) hãy cảnh báo họ hàng thân tộc của Ngươi.
Verse 215
ﮃﮄﮅﮆﮇﮈ
ﮉ
Ngươi hãy cư xử từ tốn và nhẹ nhàng với những người có đức tin theo Ngươi.
Verse 216
Nếu họ bất tuân Ngươi thì Ngươi hãy nói: “Ta vô can với những điều các người làm.”
Verse 217
ﮒﮓﮔﮕ
ﮖ
Ngươi hãy phó thác cho Đấng Quyền Lực, Nhân Từ.
Verse 218
ﮗﮘﮙﮚ
ﮛ
Đấng mà Ngài nhìn thấy Ngươi khi Ngươi đứng lễ nguyện Salah.
Verse 219
ﮜﮝﮞ
ﮟ
(Ngài nhìn thấy Ngươi) cả lúc Ngươi đổi động tác cúi xuống quỳ lạy.
Verse 220
ﮠﮡﮢﮣ
ﮤ
ởi Ngài đích thực là Đấng Hằng Nghe, Toàn Tri.
Verse 221
ﮥﮦﮧﮨﮩﮪ
ﮫ
Các ngươi có muốn TA nói cho biết ai là kẻ mà lũ Shaytan thường xuống gặp không?
Verse 222
ﮬﮭﮮﮯﮰ
ﮱ
(Shaytan) thường hay đến gặp những kẻ nói dối và tội lỗi.
Verse 223
ﯓﯔﯕﯖ
ﯗ
Chúng nói lại những thứ nghe được nhưng đa phần là bịa đặt.
____________________
(2) Những tên Jinn Shaytan nghe trộm những điều ở trên trời rồi truyền lại những gì nghe được cho những kẻ bói toán nhưng đa số những tên thầy bói đều là những kẻ nói dối. Shaytan bịa đặt một điều dối, những tên thầy bói bịa đặt thêm cả trăm điều.
____________________
(2) Những tên Jinn Shaytan nghe trộm những điều ở trên trời rồi truyền lại những gì nghe được cho những kẻ bói toán nhưng đa số những tên thầy bói đều là những kẻ nói dối. Shaytan bịa đặt một điều dối, những tên thầy bói bịa đặt thêm cả trăm điều.
Verse 224
ﯘﯙﯚ
ﯛ
Và chỉ những kẻ lầm lạc mới nghe theo những tên thi sĩ.
Verse 225
Lẽ nào Ngươi không thấy họ lang thang vơ vẩn trong mỗi thung lũng để ngâm thơ hay sao?
Verse 226
ﯤﯥﯦﯧﯨ
ﯩ
Quả thật, họ chỉ nói những điều họ không làm.
Verse 227
Ngoại trừ (những thi sĩ) có đức tin, làm việc thiện tốt, tụng niệm Allah nhiều và đã giành được thắng lợi sau khi đã bị đối xử bất công. Và những kẻ sai quấy sẽ sớm biết đâu là nơi mà mình sẽ phải quay về.
تقدم القراءة