Đối với những người có đức tin thì Nabi thân thiết (và quí) hơn bản thân của họ; và các bà vợ của Người là các bà mẹ (đạo) của họ. Tuy nhiên, theo Kinh Sách (Sắc Chỉ) của Allah thì người bà con ruột thịt gần kề nhau (về việc hưởng di sản) hơn là những người có đức tin (trong đạo) và hơn những người di cư (từ Makkah); ngoại trừ trường hợp các ngươi làm một hành động tốt đối với bạn đạo thân thiết nhất của các ngươi. Đó là Sắc Chỉ ghi trong Kinh Sách.
الترجمة الفيتنامية
Đối với những người có đức tin, Nabi Muhammad có quyền hơn ai nhất trong tất cả những gì Ngài kêu gọi họ đến với nó cho dù bản thân họ có nghiêng về ai khác ngoài Y và các bà vợ của Y là những người mẹ của toàn thể những người có đức tin. Người có đức tin tuyệt đối không được kết hôn với bất cứ người vợ nào của Y sau khi Y qua đời. Allah qui định người trong họ hàng ưu tiên thừa kế tài sản lẫn nhau hơn những người có đức tin khác cũng như những người di cư vì chính nghĩa của Allah - đây là những người từng được ở thời đầu của Islam, sau đó giáo lý này bị xóa bỏ. Tuy nhiên, không cấm các ngươi - hỡi những người có đức tin - đối xử tốt với những người đại diện của các ngươi. Đó là giáo luật mà Allah đã qui định trong quyển Kinh Mẹ bắt buộc phải tuân thủ.
الترجمة الفيتنامية للمختصر في تفسير القرآن الكريم
Nabi (Muhammad) phải được quí mến đối với những người có đức tin hơn cả bản thân họ, và các bà vợ của Y được xem là các bà mẹ của họ. (Theo sắc lệnh của Allah) trong Kinh Sách của Ngài thì bà con ruột thịt được ưu tiên đối với nhau (về việc hưởng gia tài thừa kế) hơn so với những người có đức tin và những người Muhajir (di cư từ Makkah đến Madinah), trừ trường hợp các ngươi làm một hành động tử tế đối với những người thân thiết nhất của các ngươi. Đó là mệnh lệnh được ghi trong Kinh Sách (Văn bản lưu trữ hay quyển Kinh Mẹ ở nơi Allah).
الترجمة الفيتنامية - مركز رواد الترجمة