ترجمة معاني سورة الذاريات باللغة الفيتنامية من كتاب الترجمة الفيتنامية
حسن عبد الكريم
آية رقم 1
ﯤﯥ
ﯦ
Thề bởi những (trận gió) phân tán;
آية رقم 2
ﯧﯨ
ﯩ
Và những (đám mây) mang nặng (hạt mưa);
آية رقم 3
ﯪﯫ
ﯬ
Và những (chiếc tàu) lướt đi nhẹ nhàng êm ái;
آية رقم 4
ﯭﯮ
ﯯ
Và những vị phân phối (thiên lộc và thiên ân) theo Mệnh Lệnh;-
آية رقم 5
ﯰﯱﯲ
ﯳ
Điều mà các ngươi đã được hứa chắc chắn sẽ (đến) thật.
آية رقم 6
ﯴﯵﯶ
ﯷ
Việc Phán Xử chắc chắn sẽ xảy ra.
آية رقم 7
ﭑﭒﭓ
ﭔ
Thề bởi bầu trời đầy các con đường (quỹ đạo),
آية رقم 8
ﭕﭖﭗﭘ
ﭙ
Quả thật, các ngươi có nhiều ý kiến khác nhau.
آية رقم 9
ﭚﭛﭜﭝ
ﭞ
Lánh xa Nó (Qur'an) là người lánh xa.
آية رقم 10
ﭟﭠ
ﭡ
Những kẻ phỏng đoán (và nói dối) bị nguyền rủa:
آية رقم 11
ﭢﭣﭤﭥﭦ
ﭧ
Những ai vô tâm, lơ là.
آية رقم 12
ﭨﭩﭪﭫ
ﭬ
Chúng hỏi: “Ngày Phán Xử khi nào xảy ra?”
آية رقم 13
ﭭﭮﭯﭰﭱ
ﭲ
(Đó là) Ngày mà chúng sẽ bị xử (đốt) trên Lửa.
آية رقم 14
Hãy nếm sự trừng phạt này của các ngươi. Đây là cái (hình phạt) ma các ngươi thường hối thúc cho mau đến.
آية رقم 15
ﭻﭼﭽﭾﭿ
ﮀ
Quả thật, những người sợ Allah sẽ ở trong các hoa viên và suối nước.
آية رقم 16
Hưởng mọi thứ mà Thượng Đế (Allah) của họ ban cho. Quả thật, trước đó họ là những người làm việc nghĩa.
آية رقم 17
ﮌﮍﮎﮏﮐﮑ
ﮒ
Ban đêm họ thường ít ngủ.
آية رقم 18
ﮓﮔﮕ
ﮖ
Và thường cầu xin (Allah) tha thứ trước hừng đông.
آية رقم 19
ﮗﮘﮙﮚﮛ
ﮜ
Và trong tài sản của họ, có phần qui định dành cho người ăn xin và người túng thiếu nhưng không xin xỏ.
آية رقم 20
ﮝﮞﮟﮠ
ﮡ
Và trên trái đất có những dấu hiệu cho những người có đức tin vững chãi.
آية رقم 21
ﮢﮣﮤﮥﮦ
ﮧ
Và nơi bản thân của các ngươi. Thế các ngươi không nhìn thấy ư?
آية رقم 22
ﮨﮩﮪﮫﮬ
ﮭ
Và trên trời có bổng lộc và những thứ mà các ngươi đã được hứa.
آية رقم 23
Bởi thế, thề bởi Thượng Đế (Đấng Chủ Tể) của các tầng trời và trái đất, đó là Sự Thật giống như cái (Thực tại) mà các ngươi đang nói.
آية رقم 24
ﯙﯚﯛﯜﯝﯞ
ﯟ
Há Ngươi (Muhammad) đã biết câu chuyện về các vị khách vinh dự của Ibrahim hay chưa?
آية رقم 25
Khi đến gặp Y, họ chào: “Bằng an” (Ibrahim) đáp: “Bằng an”. Họ là những người lạ mặt.
آية رقم 26
ﯫﯬﯭﯮﯯﯰ
ﯱ
Rồi Y quay vào gặp người nhà; sau đó, mang thịt bò con béo ra.
آية رقم 27
ﯲﯳﯴﯵﯶ
ﯷ
Yđặt nó trước mặt khách và thưa: “Quí vị không dùng hay sao?”
آية رقم 28
(Khi thấy họ không ăn), (Ibrahim) đâm sợ họ. Họ bảo: “Chớ sợ!” và báo cho Y tin mừng về một đứa con trai hiểu biết.
آية رقم 29
Nhưng bà vợ của Y bước đến trước, lớn tiếng than. Nữ vừa lấy tay đập vào trán của mình vừa nói: “Một bà lão hiếm hoi”
آية رقم 30
Họ đáp: “Thượng Đế (Đấng Chủ Tể) của nữ đã truyền đúng như thế. Bởi vì Ngài là Đấng Rất Cao Minh, Toàn Tri, Biết (hết tất cả)."
آية رقم 31
ﭑﭒﭓﭔﭕﭖ
ﭗ
(Ibrahim) bảo: “Thế công tác của quí vị là gì, thưa các vị sứ?”
آية رقم 32
ﭘﭙﭚﭛﭜﭝ
ﭞ
Họ đáp: “Chúng tôi được phái đến gặp một đám người tội lỗi"
آية رقم 33
ﭟﭠﭡﭢﭣ
ﭤ
“Để trút lên chúng (mưa) đá (làm bằng) gạch nung."
آية رقم 34
ﭥﭦﭧﭨ
ﭩ
“Đã được Thượng Đế của Ngươi (Ibrahim) đánh dấu để trừng phạt những kẻ tội lỗi thái quá.”
آية رقم 35
ﭪﭫﭬﭭﭮﭯ
ﭰ
"Bởi thế, chúng tôi đưa ai là người có đức tin ra khỏi nơi đó."
آية رقم 36
"Nhưng chúng tôi không thấy ai ngoài một gia đình Muslim."
آية رقم 37
"Và chúng tôi đã để lại nơi đó một dấu hiệu (làm bài học) cho những ai sợ sự trừng phạt đau đớn."
آية رقم 38
Và về Musa khi TA phái Y đến gặp Fir-'awn với một thẩm quyền rõ rệt.
آية رقم 39
ﮊﮋﮌﮍﮎﮏ
ﮐ
Nhưng ỷ vào quyền hành, hắn (Fir-'awn) quay lưng làm ngơ và bảo: “(Đây là) một tên phù thủy hay một thằng điên.”
آية رقم 40
Bởi thế, TA đã bắt phạt hắn và lực lượng của hắn. Và TA đã quẳng chúng xuống biển; và hắn (Fir-'awn) là một tên đáng trách.
آية رقم 41
Và về bộ tộc 'Ad (là một dấu hiệu) khi TA gởi một trận cuồng phong tàn phá đến trừng phạt chúng.
آية رقم 42
Nó không bỏ sót một vật gì khi ùa đến, ngoại trừ việc để lại những đống vụn rã rời.
آية رقم 43
Và về bộ tộc Thamud (là một Dấu Hiệu) khi có lời bảo chúng: “Các người hãy tạm hưởng lạc trong một thời gian ngắn.”
آية رقم 44
Nhưng chúng xấc xược thách thức Mệnh Lệnh của Thượng Đế của chúng. Do đó, lưỡi tầm sét đã đánh chúng trong lúc chúng đang ngóng nhìn.
آية رقم 45
Bởi thế, chúng không đứng dậy cũng không tự cứu mình được.
آية رقم 46
Trước đây, người dân của Nuh cũng đã bị tiêu diệt như thế. Quả thật, chúng là một đám người bất tuân, nổi loạn.
آية رقم 47
ﯰﯱﯲﯳﯴ
ﯵ
Và bầu trời, TA đã dựng nó bằng sức mạnh và TA làm cho nó bao la.
آية رقم 48
ﯶﯷﯸﯹ
ﯺ
Và trái đất, TA đã trải nó ra rộng; và Đấng trải ấy thật là Ưu Việt.
آية رقم 49
Và TA đã tạo hóa mọi vật theo cặp để cho các ngươi ghi nhớ.
آية رقم 50
Bởi thế, hãy chạy đến với Allah, quả thật, Ta (Muhammad) là một người báo trước rõ rệt do Ngài cử đến với các người.
آية رقم 51
Và chớ tôn thờ một thần linh nào cùng với Allah. Quả thật, Ta là một người báo trước công khai do Ngài cử đến với các người.
آية رقم 52
Đúng như thế; không một Sứ Giả nào đến gặp những ai sống trước chúng mà không bị xuyên tạc là 'một tên phù thủy hay một thằng điên'.
آية رقم 53
Phải chăng đây là lời di chúc mà chúng truyền cho nhau? Không, chúng là một dân tộc thái quá.
آية رقم 54
ﭧﭨﭩﭪﭫ
ﭬ
Bởi thế, hãy quay lánh xa chúng. Ngươi không bị khiển trách.
آية رقم 55
ﭭﭮﭯﭰﭱ
ﭲ
Và hãy nhắc nhở. Và sự nhắc nhở có lợi cho những người có đức tin.
آية رقم 56
ﭳﭴﭵﭶﭷﭸ
ﭹ
Và TA đã tạo ra loài Jinn và loài người chỉ để thờ phụng TA.
آية رقم 57
TA không đòi hỏi bổng lộc từ chúng và cũng không đòi chúng nuôi TA.
آية رقم 58
Chính Allah là Đấng Cung cấp bổng lộc (cho tất cả), Chủ Nhân của Quyền Lực, rất Hùng Mạnh.
آية رقم 59
Bởi thế, phần của những kẻ làm điều sai quấy giống với phần của những người bạn của chúng. Bởi thế, chúng không cần phải vội vàng.
آية رقم 60
Khốn khổ cho những kẻ vô đức tin về Ngày mà chúng đã được hứa.
تقدم القراءة