Và mỗi lần thiên tai rơi nhằm chúng, chúng nài nỉ với Musa, bảo: “Hỡi Musa! Hãy cầu xin Thượng Đế của ngươi giùm bọn ta qua lời hứa của Ngài với ngươi (rằng) nếu ngươi giải tỏa được thiên tai khỏi bọn ta thì chắc chắn bọn ta sẽ tin tưởng nơi ngươi và bọn ta sẽ để cho con cháu của Israel ra đi cùng với ngươi.”
الترجمة الفيتنامية
Và cứ thế, mỗi khi có trận thiên tai nào nhằm để cảnh cáo bọn họ, thì bọn họ chỉ biết nài nỉ Musa, họ nói: "Hỡi Musa, hãy cầu xin Thượng Đế của Ngươi giùm bọn ta bởi gì Ngươi là một Thiên Sứ của Ngài, bởi vì Ngài cũng từng hứa với Ngươi về việc kiếp nạn mang theo lời cảnh cáo nếu bọn ta biết ăn năn sám hối thì mai ra kiếp nạn đó sẽ được hóa giải. Quả thật, nếu những kiếp nạn đó được hóa giải thì chắc chắn bọn ta sẽ tin tưởng nơi Người và rồi bọn ta sẽ để con cháu của Isra-el ra đi cùng với Ngươi và bọn ta không giữ bọn họ nữa."
الترجمة الفيتنامية للمختصر في تفسير القرآن الكريم
Cứ mỗi khi đối diện với hình phạt thì chúng (liền hạ mình nài nỉ Musa) nói: “Này Musa, ngươi hãy khẩn cầu Thượng Đế của ngươi cho bọn ta qua những gì mà Ngài đã hứa với ngươi. Nếu ngươi giải được kiếp nạn này cho bọn ta, chắc chắn bọn ta sẽ có đức tin nơi ngươi và chắc chắn bọn ta sẽ để cho dân Israel ra đi theo ngươi.”
الترجمة الفيتنامية - مركز رواد الترجمة