ترجمة معاني سورة الشعراء باللغة الفيتنامية من كتاب الترجمة الفيتنامية - مركز رواد الترجمة
الترجمة الإنجليزية - صحيح انترناشونال
المنتدى الإسلامي
الترجمة الإنجليزية
الترجمة الفرنسية - المنتدى الإسلامي
نبيل رضوان
الترجمة الإسبانية
محمد عيسى غارسيا
الترجمة الإسبانية - المنتدى الإسلامي
الترجمة الإسبانية (أمريكا اللاتينية) - المنتدى الإسلامي
المنتدى الإسلامي
الترجمة البرتغالية
حلمي نصر
الترجمة الألمانية - بوبنهايم
عبد الله الصامت
الترجمة الألمانية - أبو رضا
أبو رضا محمد بن أحمد بن رسول
الترجمة الإيطالية
عثمان الشريف
الترجمة التركية - مركز رواد الترجمة
فريق مركز رواد الترجمة بالتعاون مع موقع دار الإسلام
الترجمة التركية - شعبان بريتش
شعبان بريتش
الترجمة التركية - مجمع الملك فهد
مجموعة من العلماء
الترجمة الإندونيسية - شركة سابق
شركة سابق
الترجمة الإندونيسية - المجمع
وزارة الشؤون الإسلامية الأندونيسية
الترجمة الإندونيسية - وزارة الشؤون الإسلامية
وزارة الشؤون الإسلامية الأندونيسية
الترجمة الفلبينية (تجالوج)
مركز رواد الترجمة بالتعاون مع موقع دار الإسلام
الترجمة الفارسية - دار الإسلام
فريق عمل اللغة الفارسية بموقع دار الإسلام
الترجمة الفارسية - حسين تاجي
حسين تاجي كله داري
الترجمة الأردية
محمد إبراهيم جوناكري
الترجمة البنغالية
أبو بكر محمد زكريا
الترجمة الكردية
حمد صالح باموكي
الترجمة البشتوية
زكريا عبد السلام
الترجمة البوسنية - كوركت
بسيم كوركورت
الترجمة البوسنية - ميهانوفيتش
محمد مهانوفيتش
الترجمة الألبانية
حسن ناهي
الترجمة الأوكرانية
ميخائيلو يعقوبوفيتش
الترجمة الصينية
محمد مكين الصيني
الترجمة الأويغورية
محمد صالح
الترجمة اليابانية
روايتشي ميتا
الترجمة الكورية
حامد تشوي
الترجمة الفيتنامية
حسن عبد الكريم
الترجمة الكازاخية - مجمع الملك فهد
خليفة الطاي
الترجمة الكازاخية - جمعية خليفة ألطاي
جمعية خليفة الطاي الخيرية
الترجمة الأوزبكية - علاء الدين منصور
علاء الدين منصور
الترجمة الأوزبكية - محمد صادق
محمد صادق محمد
الترجمة الأذرية
علي خان موساييف
الترجمة الطاجيكية - عارفي
فريق متخصص مكلف من مركز رواد الترجمة بالشراكة مع موقع دار الإسلام
الترجمة الطاجيكية
خوجه ميروف خوجه مير
الترجمة الهندية
مولانا عزيز الحق العمري
الترجمة المليبارية
عبد الحميد حيدر المدني
الترجمة الغوجراتية
رابيلا العُمري
الترجمة الماراتية
محمد شفيع أنصاري
الترجمة التلجوية
مولانا عبد الرحيم بن محمد
الترجمة التاميلية
عبد الحميد الباقوي
الترجمة السنهالية
فريق مركز رواد الترجمة بالتعاون مع موقع دار الإسلام
الترجمة الأسامية
رفيق الإسلام حبيب الرحمن
الترجمة الخميرية
جمعية تطوير المجتمع الاسلامي الكمبودي
الترجمة النيبالية
جمعية أهل الحديث المركزية
الترجمة التايلاندية
مجموعة من جمعية خريجي الجامعات والمعاهد بتايلاند
الترجمة الصومالية
محمد أحمد عبدي
الترجمة الهوساوية
الترجمة الأمهرية
محمد صادق
الترجمة اليورباوية
أبو رحيمة ميكائيل أيكوييني
الترجمة الأورومية
الترجمة التركية للمختصر في تفسير القرآن الكريم
مركز تفسير للدراسات القرآنية
الترجمة الفرنسية للمختصر في تفسير القرآن الكريم
مركز تفسير للدراسات القرآنية
الترجمة الإندونيسية للمختصر في تفسير القرآن الكريم
مركز تفسير للدراسات القرآنية
الترجمة الفيتنامية للمختصر في تفسير القرآن الكريم
مركز تفسير للدراسات القرآنية
الترجمة البوسنية للمختصر في تفسير القرآن الكريم
مركز تفسير للدراسات القرآنية
الترجمة الإيطالية للمختصر في تفسير القرآن الكريم
مركز تفسير للدراسات القرآنية
الترجمة الفلبينية (تجالوج) للمختصر في تفسير القرآن الكريم
مركز تفسير للدراسات القرآنية
الترجمة الفارسية للمختصر في تفسير القرآن الكريم
مركز تفسير للدراسات القرآنية
Dr. Ghali - English translation
Muhsin Khan - English translation
Pickthall - English translation
Yusuf Ali - English translation
Azerbaijani - Azerbaijani translation
Sadiq and Sani - Amharic translation
Farsi - Persian translation
Finnish - Finnish translation
Muhammad Hamidullah - French translation
Korean - Korean translation
Maranao - Maranao translation
Abdul Hameed and Kunhi Mohammed - Malayalam translation
Salomo Keyzer - Flemish (Dutch) translation
Norwegian - Norwegian translation
Samir El - Portuguese translation
Polish - Polish translation
Romanian - Romanian translation
Elmir Kuliev - Russian translation
Albanian - Albanian translation
Tatar - Tatar translation
Japanese - Japanese translation
محمد جوناگڑھی - Urdu translation
Ma Jian - Chinese translation
Turkish - Turkish translation
King Fahad Quran Complex - Thai translation
Ali Muhsin Al - Swahili translation
Abdullah Muhammad Basmeih - Malay translation
Hamza Roberto Piccardo - Italian translation
Indonesian - Indonesian translation
Bubenheim & Elyas - German / Deutsch translation
Bosnian - Bosnian translation
Hasan Efendi Nahi - Albanian translation
Sherif Ahmeti - Albanian translation
Sahih International - English translation
Czech - Czech translation
Abul Ala Maududi(With tafsir) - English translation
Tajik - Tajik translation
Alikhan Musayev - Azerbaijani translation
Muhammad Saleh - Uighur; Uyghur translation
Abdul Haleem - English translation
Mufti Taqi Usmani - English translation
Muhammad Karakunnu and Vanidas Elayavoor - Malayalam translation
Sheikh Isa Garcia - Spanish; Castilian translation
Divehi - Divehi; Dhivehi; Maldivian translation
Abubakar Mahmoud Gumi - Hausa translation
Mahmud Muhammad Abduh - Somali translation
Knut Bernström - Swedish translation
Jan Trust Foundation - Tamil translation
Mykhaylo Yakubovych - Ukrainian translation
Uzbek - Uzbek translation
Diyanet Isleri - Turkish translation
Ministry of Awqaf, Egypt - Russian translation
Abu Adel - Russian translation
Burhan Muhammad - Kurdish translation
Dr. Mustafa Khattab, The Clear Quran - English translation
Dr. Mustafa Khattab - English translation
الترجمة الإنجليزية - مركز رواد الترجمة
الترجمة الفرنسية - محمد حميد الله
الترجمة البوسنية - مركز رواد الترجمة
الترجمة الصربية - مركز رواد الترجمة - جار العمل عليها
الترجمة الألبانية - مركز رواد الترجمة - جار العمل عليها
الترجمة اليابانية - سعيد ساتو
الترجمة الفيتنامية - مركز رواد الترجمة
الترجمة التاميلية - عمر شريف
الترجمة السواحلية - عبد الله محمد وناصر خميس
الترجمة اللوغندية - المؤسسة الإفريقية للتنمية
الترجمة الإنكو بامبارا - ديان محمد
الترجمة العبرية
الترجمة الإنجليزية للمختصر في تفسير القرآن الكريم
الترجمة الروسية للمختصر في تفسير القرآن الكريم
الترجمة البنغالية للمختصر في تفسير القرآن الكريم
الترجمة الصينية للمختصر في تفسير القرآن الكريم
الترجمة اليابانية للمختصر في تفسير القرآن الكريم
ترجمة معاني القرآن الكريم - عادل صلاحي
عادل صلاحي
ﰡ
آية رقم 1
ﭑ
ﭒ
Ta. Sin. Mim.
آية رقم 2
ﭓﭔﭕﭖ
ﭗ
Đó là những Câu Kinh của một Kinh Sách minh bạch (không mơ hồ và thần bí).
آية رقم 3
ﭘﭙﭚﭛﭜﭝ
ﭞ
Có lẽ Ngươi (Thiên Sứ Muhammad) khổ tâm, đau buồn khiến bản thân chết dần chết mòn về việc họ không có đức tin.
آية رقم 4
Nếu muốn, TA (Allah) có thể ban một phép lạ từ trên trời xuống khiến họ cúi cổ thần phục, (nhưng TA không làm thế vì để thử thách họ xem họ có tin vào điều vô hình hay không).
آية رقم 5
Bất cứ điều nhắc nhở nào được ban xuống cho họ từ Đấng Độ Lượng, họ đều quay lưng bỏ đi.
آية رقم 6
Quả thật, họ đã phủ nhận (những điều mà Thiên Sứ của họ đã mang đến), rồi đây họ sẽ nhận được tin về những điều mà họ đã từng chế giễu.
آية رقم 7
Lẽ nào họ đã không quan sát trái đất, nơi mà TA đã làm mọc ra biết bao cây cối tốt lành?
آية رقم 8
Quả thật, trong đó là một bằng chứng (cho việc TA thừa khả năng làm người chết sống lại), tuy nhiên, đa số bọn họ không có đức tin.
آية رقم 9
ﮖﮗﮘﮙﮚ
ﮛ
Quả thật, Thượng Đế của Ngươi (hỡi Thiên Sứ Muhammad) là Đấng Quyền Lực, Nhân Từ.
آية رقم 10
(Ngươi hãy nhớ lại) khi Thượng Đế của Ngươi gọi Musa phán bảo: “Ngươi hãy đi gặp một đám người làm điều sai quấy.”
آية رقم 11
ﮥﮦﮧﮨﮩ
ﮪ
“Đó là đám người của Pha-ra-ông. (Ngươi hãy bảo) họ sợ (Allah).”
آية رقم 12
ﮫﮬﮭﮮﮯﮰ
ﮱ
(Musa) thưa: “Lạy Thượng Đế của bề tôi, bề tôi thực sự lo sợ rằng họ sẽ cho bề tôi nói dối.”
آية رقم 13
“Và lồng ngực của bề tôi thì chật hẹp, chiếc lưỡi của bề tôi thì nói không lưu loát, xin Ngài cử thêm Harun làm phò tá cho bề tôi.”
آية رقم 14
ﯜﯝﯞﯟﯠﯡ
ﯢ
“Bề tôi đã phạm tội với họ (vì đã lỡ tay giết chết một người của họ) nên bề tôi sợ họ sẽ giết bề tôi.”
آية رقم 15
(Allah) phán bảo (Musa và Harun): “Sẽ không sao, hai ngươi cứ lên đường với những Phép Lạ của TA. Quả thật TA sẽ ở cùng với hai ngươi, TA luôn nghe thấy tất cả.”
آية رقم 16
“Hai Ngươi cứ đi gặp Pha-ra-ông, hai ngươi hãy nói với y: Chúng tôi là Thiên Sứ của Thượng Đế của vũ trụ và muôn loài.”
آية رقم 17
ﯵﯶﯷﯸﯹ
ﯺ
“Xin ngài hãy để con cháu Israel ra đi với chúng tôi.”
آية رقم 18
(Pha-ra-ông) bảo (Musa): “Há ta đã không thương yêu và nuôi nấng Ngươi như con cái hay sao? Chẳng phải Ngươi đã ở với ta nhiều năm trong đời Ngươi hay sao?”
آية رقم 19
“Vậy mà Ngươi đã nhẫn tâm làm một việc đáng lẽ ra Ngươi không nên làm, Ngươi là một tên vong ơn bội nghĩa.”
آية رقم 20
ﭑﭒﭓﭔﭕﭖ
ﭗ
(Musa) nói (với Pha-ra-ông): “Tôi đã làm điều đó lúc tôi là kẻ không biết gì (vì chưa nhận được sự mặc khải của Allah).”
آية رقم 21
“Vì sợ ngài nên Tôi đã bỏ trốn đi xa và Thượng Đế của Tôi đã ban cho Tôi sự khôn ngoan và cử Tôi làm Thiên Sứ (của Ngài).”
آية رقم 22
“Đấy là ân xưa mà ngài đã nại ra để khiển trách Tôi rồi đã bắt người dân Israel làm nô lệ.”
آية رقم 23
ﭭﭮﭯﭰﭱ
ﭲ
Pha-ra-ông hỏi (Musa): “Thế Thượng Đế của vũ trụ và muôn loài là gì?”
آية رقم 24
(Musa) đáp: “Là Thượng Đế của các tầng trời, trái đất và vạn vật giữa trời đất, nếu quí ngài muốn có đức tin vững chắc (nơi Ngài thì quí ngài hãy chỉ thờ phượng một mình Ngài thôi).”
آية رقم 25
ﭾﭿﮀﮁﮂ
ﮃ
(Pha-ra-ông) nói với các cận thần: “Các khanh có nghe rõ (lời bịa đặt của Musa) chăng?”
آية رقم 26
ﮄﮅﮆﮇﮈ
ﮉ
(Musa) nói tiếp: “Đó là Thượng Đế của quí ngài và cả tổ tiên của quí ngài nữa.”
آية رقم 27
(Pha-ra-ông) bảo: “Chắc chắn Thiên Sứ được gởi đến cho các ngươi là một tên điên!”
آية رقم 28
(Musa) nói tiếp: “Đó là Thượng Đế của hướng đông, hướng tây và vạn vật giữa hai hướng đó, nếu quí ngài nhận thức được.”
آية رقم 29
(Pha-ra-ông) nói với (Musa): “Nếu nhà Ngươi quyết tôn thờ một Thượng Đế khác ngoài ta thì chắc chắn ta sẽ cho nhà Ngươi bị tù đày.”
آية رقم 30
ﮦﮧﮨﮩﮪ
ﮫ
(Musa) nói với (Pha-ra-ông): “Ngay cả khi tôi mang đến cho ngài một điều gì đó chứng minh rõ ràng ư?”
آية رقم 31
(Pha-ra-ông) nói: “Vậy nhà Ngươi hãy trình nó ra xem nếu nhà Ngươi đúng là một người nói thật.”
آية رقم 32
ﯕﯖﯗﯘﯙﯚ
ﯛ
Thề là Musa ném chiếc gậy của Y xuống, nó lập tức biến thành một con rắn hiển hiện.
آية رقم 33
ﯜﯝﯞﯟﯠﯡ
ﯢ
Và khi Y rút bàn tay của Y ra (sau khi áp nó vào ba sườn), bàn tay của Y trở nên trắng sáng trước những người chứng kiến.
آية رقم 34
(Pha-ra-ông) quay sang bảo các cận thần: “Tên này quả nhiên là một phù thủy tài giỏi.”
آية رقم 35
“Hắn định dùng pháp thuật để đánh đuổi các khanh ra khỏi lãnh thổ của các khanh. Vậy các khanh có ý xử trí hắn ra sao?”
آية رقم 36
(Các cận thần của Pha-ra-ông) thưa: “Hãy tạm tha cho hắn và người anh em của hắn, chúng ta sẽ tập hợp các pháp sư trong các thành phố lại.”
آية رقم 37
ﯼﯽﯾﯿ
ﰀ
“Tất cả những nhà phù thủy tài giỏi sẽ đến trình diện bệ hạ.”
آية رقم 38
ﰁﰂﰃﰄﰅ
ﰆ
Vậy là các phù thủy được triệu tập tại một nơi hẹn vào một ngày đã được công bố rõ ràng.
آية رقم 39
ﰇﰈﰉﰊﰋ
ﰌ
Và mọi người bảo nhau: “Các người không đi dự đại hội (để xem ai thắng trong cuộc so tài giữa Musa và các phù thủy) sao?”
آية رقم 40
“Có lẽ chúng ta sẽ theo các nhà phù thủy nếu họ thắng cuộc.”
آية رقم 41
Khi đến nơi, những nhà phù thủy thưa với Pha-ra-ông: “Nếu chúng tôi thắng thì chúng tôi có được ban thưởng không?”
آية رقم 42
ﭦﭧﭨﭩﭪﭫ
ﭬ
(Pha-ra-ông) bảo: “Chắc chắn có, nhất định lúc đó các ngươi sẽ trở thành các cận thần của ta.”
آية رقم 43
Musa bảo (các phù thủy): “Quí ngài hãy ném bảo bối của quí ngài xuống.”
آية رقم 44
Thế là, họ ném những sợi dây và chiếc gậy của họ xuống, nói: “Với quyền lực của Pha-ra-ông, chúng tôi chắc chắn sẽ chiến thắng.”
آية رقم 45
Nhưng khi Musa ném chiếc gậy của Y xuống, nó nuốt mất những món vật mà họ đã làm giả.
آية رقم 46
ﮈﮉﮊ
ﮋ
Lúc đó, những tên phù thủy liền cúi xuống quỳ lạy.
آية رقم 47
ﮌﮍﮎﮏ
ﮐ
Họ nói: “Chúng tôi đã có đức tin nơi Thượng Đế của vũ trụ và muôn loài.”
آية رقم 48
ﮑﮒﮓ
ﮔ
“Thượng Đế của Musa và Harun.”
آية رقم 49
(Thấy thế), Pha-ra-ông quát (các nhà phù thủy): “Các ngươi dám tin hắn trước khi ta cho phép các ngươi ư? Hắn quả nhiên là tên cầm đầu của các ngươi; hắn đã dạy các ngươi pháp thuật; rồi các ngươi sẽ sớm biết hậu quả. Chắc chắn, ta sẽ cho chặt tay này và chân kia của các ngươi và sẽ cho đóng đinh toàn bộ các ngươi trên thập tự giá.”
آية رقم 50
(Các nhà phù thủy) trả lời (Pha-ra-ông): “Chẳng có gì thiệt hại cả, bởi vì rồi đây chúng tôi sẽ quay về gặp Thượng Đế của chúng tôi mà thôi.”
آية رقم 51
“Chúng tôi kỳ vọng Thượng Đế của chúng tôi sẽ tha thứ cho chúng tôi những lỗi lầm của chúng tôi bởi vì chúng tôi là những người có đức tin đầu tiên.”
آية رقم 52
TA đã mặc khải cho Musa, phán: “Ngươi hãy dẫn hết đám bề tôi của TA rời đi ban đêm, quả thật các ngươi sẽ bị truy sát.”
آية رقم 53
ﯭﯮﯯﯰﯱ
ﯲ
Rồi Pha-ra-ông cho quân lính loan tin đi khắp các thành phố.
آية رقم 54
ﯳﯴﯵﯶ
ﯷ
“Quả thật, đám dân (Israel) này chỉ là một nhóm nhỏ bé.”
آية رقم 55
ﯸﯹﯺ
ﯻ
“Chúng thực sự đã phạm tội khi quân vì đã chọc giận ta.”
آية رقم 56
ﯼﯽﯾ
ﯿ
“Nhưng ta đã luôn cảnh giác đề phòng chúng.”
آية رقم 57
ﰀﰁﰂﰃ
ﰄ
Bởi thế, TA (Allah) đã tống bọn chúng (Pha-ra-ông và quân lính của hắn) ra khỏi hoa viên và suối nước.
آية رقم 58
ﰅﰆﰇ
ﰈ
Khỏi những kho tàng châu báu và địa vị cao sang.
آية رقم 59
ﰉﰊﰋﰌﰍ
ﰎ
Giống như thế, TA đã cho dân Israel thừa kế (những thứ tốt đẹp đó).
آية رقم 60
ﰏﰐ
ﰑ
Rồi (Pha-ra-ông và quân lính của hắn) truy đuổi họ (dân Israel) vào lúc hừng đông.
آية رقم 61
Khi hai đoàn người đối diện nhau, các tông đồ của Musa nói: “Chắc chắn chúng ta sẽ bị đuổi kịp.”
آية رقم 62
(Musa) bảo: “Không đâu, Thượng Đế của Ta luôn sát cánh bên Ta, Ngài sẽ hướng dẫn Ta thôi.”
آية رقم 63
Ngay lúc đó, TA mặc khải cho Musa, phán: “Ngươi hãy đánh cây gậy của Ngươi xuống mặt biển.” (Y làm theo), tức khắc biển tách ra làm đôi thành những tảng nước hai bên như hai ngọn núi khổng lồ.
آية رقم 64
ﭱﭲﭳ
ﭴ
TA đẩy đám người kia (Pha-ra-ông và quân lính của hắn) đến gần nơi đó.
آية رقم 65
ﭵﭶﭷﭸﭹ
ﭺ
Và TA đã cứu nguy Musa và toàn bộ những ai theo Y.
آية رقم 66
ﭻﭼﭽ
ﭾ
Rồi TA nhấn chìm đám người kia.
آية رقم 67
Quả thật, trong sự việc đó là một bằng chứng (cho sự trung thực của Musa) nhưng đa số bọn họ không có đức tin.
آية رقم 68
ﮉﮊﮋﮌﮍ
ﮎ
Và Thượng Đế của Ngươi đích thực là Đấng Quyền Lực, Nhân Từ.
آية رقم 69
ﮏﮐﮑﮒ
ﮓ
Ngươi (hỡi Thiên Sứ Muhammad) hãy đọc cho họ nghe về câu chuyện của Ibrahim.
آية رقم 70
ﮔﮕﮖﮗﮘﮙ
ﮚ
Khi (Ibrahim) thưa với phụ thân và người dân của mình: “Các người đang thờ phượng gì thế kia?”
آية رقم 71
ﮛﮜﮝﮞﮟﮠ
ﮡ
Họ đáp: “Bọn ta đang thờ các bục tượng, bọn ta rất sùng kính các thần linh này.”
آية رقم 72
ﮢﮣﮤﮥﮦ
ﮧ
(Ibrahim) hỏi: “Các bục tượng đó có nghe được các người khi các người cầu xin chúng không?”
آية رقم 73
ﮨﮩﮪﮫ
ﮬ
“Hoặc chúng có giúp ích hay hãm hại được các người không?”
آية رقم 74
ﮭﮮﮯﮰﮱﯓ
ﯔ
Họ đáp: “Không, nhưng bọn ta thấy cha mẹ của bọn ta đã làm như vậy.”
آية رقم 75
ﯕﯖﯗﯘﯙ
ﯚ
(Ibrahim) bảo: “Những thứ mà các người đang tôn thờ”
آية رقم 76
ﯛﯜﯝ
ﯞ
“Và cả những thứ mà tổ tiên xa xưa của các người đã tôn thờ”
آية رقم 77
ﯟﯠﯡﯢﯣﯤ
ﯥ
“Đều là kẻ thù của Ta ngoại trừ Thượng Đế của vũ trụ và muôn loài.”
آية رقم 78
ﯦﯧﯨﯩ
ﯪ
“Ngài là Đấng đã tạo ra Ta rồi hướng dẫn Ta.”
آية رقم 79
ﯫﯬﯭﯮ
ﯯ
“Ngài là Đấng đã cho Ta ăn và cho Ta uống.”
آية رقم 80
ﯰﯱﯲﯳ
ﯴ
“Khi Ta bệnh thì Ngài là Đấng cho Ta khỏi bệnh.”
آية رقم 81
ﯵﯶﯷﯸ
ﯹ
“Ngài là Đấng làm cho Ta chết rồi làm cho Ta sống lại.”
آية رقم 82
“Ngài là Đấng mà Ta hy vọng sẽ được tha thứ về những tội lỗi của Ta vào Ngày Phán Xét.”
آية رقم 83
ﰃﰄﰅﰆﰇﰈ
ﰉ
“Lạy Thượng Đế của bề tôi, xin Ngài ban cho bề tôi sự khôn ngoan và xin Ngài nhập bề tôi cùng với những người đức hạnh.”
آية رقم 84
ﭑﭒﭓﭔﭕﭖ
ﭗ
“Xin Ngài vinh danh bề tôi trên chiếc lưỡi của những thế hệ mai sau.”
آية رقم 85
ﭘﭙﭚﭛﭜ
ﭝ
“Xin Ngài làm cho bề tôi thành một người thừa kế Thiên Đàng Hạnh phúc.”
آية رقم 86
ﭞﭟﭠﭡﭢﭣ
ﭤ
“Xin Ngài tha thứ cho phụ thân của bề tôi bởi ông ấy là một người lầm lạc.”
آية رقم 87
ﭥﭦﭧﭨ
ﭩ
“Xin Ngài đừng hạ nhục bề tôi vào Ngày nhân loại được phục sinh.”
آية رقم 88
ﭪﭫﭬﭭﭮﭯ
ﭰ
“Đó là Ngày mà của cải cũng như con cái sẽ không giúp ích được gì.”
آية رقم 89
ﭱﭲﭳﭴﭵﭶ
ﭷ
“Ngoại trừ những ai đến với Allah bằng một tấm lòng trong sạch.”
آية رقم 90
ﭸﭹﭺ
ﭻ
Thiên Đàng sẽ được mang đến gần những người ngoan đạo.
آية رقم 91
ﭼﭽﭾ
ﭿ
Hỏa Ngục sẽ được mang đến trước mặt những kẻ lầm lạc.
آية رقم 92
ﮀﮁﮂﮃﮄﮅ
ﮆ
Có lời bảo họ: “Đâu là những thứ mà các ngươi đã tôn thờ”
آية رقم 93
“Thay vì Allah? Liệu chúng có khả năng giải cứu các ngươi hoặc tự cứu lấy bản thân chúng được không?”
آية رقم 94
ﮏﮐﮑﮒ
ﮓ
Bởi thế, chúng cùng với đám quỷ quái sẽ bị lùa vào Hỏa Ngục.
آية رقم 95
ﮔﮕﮖ
ﮗ
Và toàn bộ binh tướng của Iblis cũng thế.
آية رقم 96
ﮘﮙﮚﮛ
ﮜ
Và trong lúc cãi vã nhau trong (Hỏa Ngục), họ sẽ nói:
آية رقم 97
ﮝﮞﮟﮠﮡﮢ
ﮣ
“Thề với Allah, chúng tôi rõ ràng là nhóm người lầm lạc.”
آية رقم 98
ﮤﮥﮦﮧ
ﮨ
“Khi mà chúng tôi đã suy tôn các ngươi ngang vai với Thượng Đế của vũ trụ và muôn loài.”
آية رقم 99
ﮩﮪﮫﮬ
ﮭ
“Và chỉ những tên tội lỗi mới dắt chúng tôi đi lạc.”
آية رقم 100
ﮮﮯﮰﮱ
ﯓ
“Thế là chúng tôi chẳng có ai can thiệp.”
آية رقم 101
ﯔﯕﯖ
ﯗ
“Chúng tôi cũng chẳng có một người bạn chân tình nào cả.”
آية رقم 102
“Nếu có cơ hội trở lại (trần thế) lần nữa thì chúng tôi sẽ là những người có đức tin.”
آية رقم 103
Quả thật, trong sự việc đó là một dấu hiệu, nhưng đa số bọn họ không có đức tin.
آية رقم 104
ﯪﯫﯬﯭﯮ
ﯯ
Quả thật, Thượng Đế của Ngươi là Đấng Quyền Lực, Nhân Từ.
آية رقم 105
ﯰﯱﯲﯳ
ﯴ
Người dân của Nuh đã chối bỏ tất cả Thiên Sứ (của Allah).
آية رقم 106
Khi Nuh, người anh em của họ bảo họ: “Các người không sợ (Allah) sao?”
آية رقم 107
ﯽﯾﯿﰀ
ﰁ
“Ta đúng thực là Thiên Sứ đáng tin được (Allah) phái đến cho các người.”
آية رقم 108
ﰂﰃﰄ
ﰅ
“Thế nên, các người hãy kính sợ Allah và vâng lời Ta.”
آية رقم 109
“Ta không đòi các người trả thù lao cho việc đó mà chính Thượng Đế của vũ trụ và muôn loài sẽ ân thưởng cho Ta.”
آية رقم 110
ﰓﰔﰕ
ﰖ
“Thế nên, các người hãy kính sợ Allah và vâng lời Ta.”
آية رقم 111
ﰗﰘﰙﰚﰛﰜ
ﰝ
Họ (đáp lại lời kêu gọi của Nuh), nói :“Lẽ nào bọn ta lại phải tin ngươi trong khi những kẻ đi theo ngươi toàn là những tên bần cùng?!”
آية رقم 112
ﭑﭒﭓﭔﭕﭖ
ﭗ
(Nuh) bảo: “Ta không biết điều họ đã từng làm.”(1)
____________________
(1) Ý của Nuh: “Ta không nhất thiết phải quan tâm đến hoàn cảnh của họ, những ai đã theo Ta. Ta chỉ có nhiệm vụ là chấp nhận sự thành tâm và trung thực của họ, còn những điều bí mật ở nơi họ thì Ta phó mặc cho Allah, nó thuộc thẩm quyền của Ngài.”
____________________
(1) Ý của Nuh: “Ta không nhất thiết phải quan tâm đến hoàn cảnh của họ, những ai đã theo Ta. Ta chỉ có nhiệm vụ là chấp nhận sự thành tâm và trung thực của họ, còn những điều bí mật ở nơi họ thì Ta phó mặc cho Allah, nó thuộc thẩm quyền của Ngài.”
آية رقم 113
“Việc phán xét họ là ở thẩm quyền nơi Thượng Đế của Ta, nếu các người cảm nhận được.”
آية رقم 114
ﭡﭢﭣﭤ
ﭥ
“Ta không có quyền xua đuổi những người có đức tin.”
آية رقم 115
ﭦﭧﭨﭩﭪ
ﭫ
“Quả thật Ta chỉ là một người cảnh báo công khai mà thôi.”
آية رقم 116
Họ (dọa Nuh), bảo: “Này Nuh, nếu ngươi không chịu dừng lại, bọn ta sẽ ném đá giết chết ngươi.”
آية رقم 117
ﭵﭶﭷﭸﭹ
ﭺ
Nuh cầu nguyện: “Lạy Thượng Đế của bề tôi, đám dân của bề tôi đã phủ nhận bề tôi.”
آية رقم 118
“Xin Ngài mở lối giữa bề tôi và họ, xin Ngài giải cứu bề tôi và những người có đức tin đã đi theo bề tôi.”
آية رقم 119
ﮅﮆﮇﮈﮉﮊ
ﮋ
Thế là TA đã giải cứu (Nuh) và những ai đi theo Y trên một chiếc tàu đầy ắp.
آية رقم 120
ﮌﮍﮎﮏ
ﮐ
Rồi TA nhấn chìm toàn bộ đám người còn lại (trong biển nước của trận đại hồng thủy).
آية رقم 121
Quả thật, trong sự việc đó là một dấu hiệu (làm bài học cho những ai phủ nhận Thiên Sứ của Allah), tuy nhiên, đa số bọn họ không có đức tin.
آية رقم 122
ﮛﮜﮝﮞﮟ
ﮠ
Quả thật, Thượng Đế của Ngươi là Đấng Quyền Lực, Nhân Từ.
آية رقم 123
ﮡﮢﮣ
ﮤ
Người dân ‘Ad đã chối bỏ tất cả Thiên Sứ (của Allah).
آية رقم 124
Khi Hud, người anh em của họ bảo họ: “Các người không sợ (Allah) sao?”
آية رقم 125
ﮭﮮﮯﮰ
ﮱ
“Ta đúng thực là Thiên Sứ đáng tin được (Allah) phái đến cho các người.”
آية رقم 126
ﯓﯔﯕ
ﯖ
“Thế nên, các người hãy kính sợ Allah và vâng lời Ta.”
آية رقم 127
“Ta không đòi các người trả thù lao cho việc đó mà chính Thượng Đế của vũ trụ và muôn loài sẽ ân thưởng cho Ta.”
آية رقم 128
ﯤﯥﯦﯧﯨ
ﯩ
“Phải chăng các người đã xây cất trên cao (những ngôi nhà kiêng cố) để khoe khoang ư?”
آية رقم 129
ﯪﯫﯬﯭ
ﯮ
“Lẽ nào các người xây cất những lâu đài kiên cố để mong ở trong đó vĩnh viễn?”
آية رقم 130
ﯯﯰﯱﯲ
ﯳ
“Và khi các người đàn áp, các người đàn áp như những bạo chúa.”
آية رقم 131
ﯴﯵﯶ
ﯷ
“Các người hãy kính sợ Allah và vâng lời Ta.”
آية رقم 132
ﯸﯹﯺﯻﯼ
ﯽ
“Các người hãy sợ Đấng đã trợ giúp các người biết bao thiên ân mà các người biết.”
آية رقم 133
ﯾﯿﰀ
ﰁ
“Ngài đã ban cho các người gia súc và con cái.”
آية رقم 134
ﰂﰃ
ﰄ
“(Ngài đã ban cho các người) vườn tược và suối nước.”
آية رقم 135
ﰅﰆﰇﰈﰉﰊ
ﰋ
“Ta thật sự lo sợ cho các người về sự trừng phạt của một Ngày Vĩ Đại.”
آية رقم 136
(Đám dân của Hud đáp lại lời kêu gọi của Y), nói: “Dù ngươi có cảnh báo hay không cảnh báo, điều đó cũng bằng thừa đối với bọn ta mà thôi.”
آية رقم 137
ﭑﭒﭓﭔﭕ
ﭖ
“Đây đúng là phong cách và lối suy nghĩ của người xưa.”
آية رقم 138
ﭗﭘﭙ
ﭚ
“Và bọn ta chắc chắn sẽ không bị trừng phạt.”
آية رقم 139
Thế là họ chối bỏ Y nên đã bị tiêu diệt. Quả thật, trong sự việc đó là một dấu hiệu, nhưng đa số bọn họ không có đức tin.
آية رقم 140
ﭨﭩﭪﭫﭬ
ﭭ
Quả thật Thượng Đế của Ngươi là Đấng Quyền Lực, Nhân Từ.
آية رقم 141
ﭮﭯﭰ
ﭱ
Người dân Thamud đã chối bỏ tất cả Thiên Sứ (của Allah).
آية رقم 142
Khi Saleh, người anh em của họ bảo họ: “Các người không sợ (Allah) sao?”
آية رقم 143
ﭺﭻﭼﭽ
ﭾ
“Ta đúng thực là Thiên Sứ đáng tin được (Allah) phái đến cho các người.”
آية رقم 144
ﭿﮀﮁ
ﮂ
“Thế nên, các người hãy kính sợ Allah và vâng lời Ta.”
آية رقم 145
“Ta không đòi các người trả thù lao cho việc đó mà chính Thượng Đế của vũ trụ và muôn loài sẽ ân thưởng cho Ta.”
آية رقم 146
ﮐﮑﮒﮓﮔ
ﮕ
“Lẽ nào các người sẽ được an toàn hưởng thụ những tiện nghi hiện có nơi đây?”
آية رقم 147
ﮖﮗﮘ
ﮙ
“Trong những ngôi vườn và suối nước?”
آية رقم 148
ﮚﮛﮜﮝ
ﮞ
“Với những nương rẫy và vườn chà là kết trái chín mộng?”
آية رقم 149
ﮟﮠﮡﮢﮣ
ﮤ
“Và các người giỏi đục núi xây nhà kiêng cố.”
آية رقم 150
ﮥﮦﮧ
ﮨ
“Các người hãy kính sợ Allah và vâng lời Ta.”
آية رقم 151
ﮩﮪﮫﮬ
ﮭ
“Các người chớ nghe theo mệnh lệnh của những kẻ thái quá.”
آية رقم 152
ﮮﮯﮰﮱﯓﯔ
ﯕ
“Họ là những kẻ làm điều xấu xa và tội lỗi khắp nơi nhưng không chịu sửa mình.”
آية رقم 153
ﯖﯗﯘﯙﯚ
ﯛ
(Đám dân của Saleh đáp lại lời kêu gọi của Y), nói: “Ngươi đúng là đã bị trúng tà.”
آية رقم 154
“Ngươi chẳng qua cũng chỉ là một người phàm như bọn ta. Nhưng nếu ngươi nói thật thì ngươi hãy mang ra cho bọn ta thứ gì đó chứng minh xem nào.”
آية رقم 155
(Saleh) bảo họ: “Đây là con lạc đà cái (mà Allah đã mang nó ra từ tảng đá), nó sẽ uống phần nước của nó và các người sẽ uống phần nước của các người vào ngày được ấn định.”
آية رقم 156
“Các người không được làm hại đến nó, nếu không các người sẽ bị trừng phạt vào một Ngày Vĩ Đại.”
آية رقم 157
ﯺﯻﯼ
ﯽ
Nhưng rồi họ đã đâm cổ nó và tỏ ra hối hận sau đó.
آية رقم 158
Thế là họ đã bị hình phạt túm lấy. Quả thật, trong sự việc đó là một dấu hiệu (bài học cho những ai phủ nhận và không vâng lời các vị Thiên Sứ của Allah); tuy nhiên, đa số bọn họ không có đức tin.
آية رقم 159
ﰋﰌﰍﰎﰏ
ﰐ
Quả thật, Thượng Đế của Ngươi là Đấng Quyền Lực, Nhân Từ.
آية رقم 160
ﭑﭒﭓﭔ
ﭕ
Người dân của Lut đã chối bỏ tất cả Thiên Sứ (của Allah).
آية رقم 161
Khi Lut, người anh em của họ bảo họ: “Các người không sợ (Allah) sao?”
آية رقم 162
ﭞﭟﭠﭡ
ﭢ
“Ta đúng thực là Thiên Sứ đáng tin được (Allah) phái đến cho các người.”
آية رقم 163
ﭣﭤﭥ
ﭦ
“Thế nên, các người hãy kính sợ Allah và vâng lời Ta.”
آية رقم 164
“Ta không đòi các người trả thù lao cho việc đó mà chính Thượng Đế của vũ trụ và muôn loài sẽ ân thưởng cho Ta.”
آية رقم 165
ﭴﭵﭶﭷ
ﭸ
“Sao các người lại tìm đến đàn ông trong vũ trụ này để thỏa mãn tình dục,”
آية رقم 166
“Và bỏ rơi những người mà Thượng Đế của các người đã tạo ra cho các người để làm vợ? Không, các người thực sự là những kẻ thái quá.”
آية رقم 167
(Đám dân của Lut dọa Y), bảo: “Này Lut, nếu ngươi không chịu dừng lại, bọn ta sẽ trục xuất ngươi ra khỏi xứ.”
آية رقم 168
ﮏﮐﮑﮒﮓ
ﮔ
(Lut) nói với họ: “Ta là một người căm ghét việc làm của các người.”
آية رقم 169
ﮕﮖﮗﮘﮙ
ﮚ
(Lut cầu nguyện): “Lạy Thượng Đế của bề tôi, xin Ngài giải cứu bề tôi và gia đình của bề tôi thoát khỏi hành vi xấu của họ.”
آية رقم 170
ﮛﮜﮝ
ﮞ
Thế là TA (Allah) đã giải cứu Lut và toàn bộ gia đình của Y.
آية رقم 171
ﮟﮠﮡﮢ
ﮣ
Trừ vợ của Y (là kẻ vô đức tin), nữ ta sẽ ở cùng đám người bị trừng phạt.
آية رقم 172
ﮤﮥﮦ
ﮧ
Sau đó TA đã tiêu diệt toàn bộ đám người còn lại.
آية رقم 173
TA đã trừng phạt họ bằng một trận mưa khủng khiếp; đúng là một trận mưa kinh hoàng cho đám người được cảnh báo trước.
آية رقم 174
Quả thật, trong sự việc đó là một dấu hiệu (bài học cho những ai phủ nhận và không vâng lời các vị Thiên Sứ của Allah); tuy nhiên, đa số bọn họ không có đức tin.
آية رقم 175
ﯛﯜﯝﯞﯟ
ﯠ
Quả thật, Thượng Đế của Ngươi là Đấng Quyền Lực, Nhân Từ.
آية رقم 176
ﯡﯢﯣﯤ
ﯥ
Dân chúng Aikah (một khu rừng gần địa phận Madyan) đã chối bỏ tất cả Thiên Sứ (Allah).
آية رقم 177
ﯦﯧﯨﯩﯪﯫ
ﯬ
Khi Shu’aib bảo họ: “Các người không sợ (Allah) sao?”
آية رقم 178
ﯭﯮﯯﯰ
ﯱ
“Ta đúng thực là Thiên Sứ đáng tin được (Allah) phái đến cho các người.”
آية رقم 179
ﯲﯳﯴ
ﯵ
“Thế nên, các người hãy kính sợ Allah và vâng lời Ta.”
آية رقم 180
“Ta không đòi các người trả thù lao cho việc đó mà chính Thượng Đế của vũ trụ và muôn loài sẽ ân thưởng cho Ta.”
آية رقم 181
“Các người hãy đong cho đủ, chớ là những kẻ làm cho người khác mất mát (gian lận, đong không đủ khi bán).”
آية رقم 182
ﰋﰌﰍ
ﰎ
“Và khi cân các người hãy để cho bàn cân được ngay thẳng.”
آية رقم 183
“Các người chớ gian lận thiên hạ bằng cách cân thiếu và cũng chớ đi khắp trái đất để gieo rắc tội lỗi.”
آية رقم 184
ﭑﭒﭓﭔﭕ
ﭖ
“Các người hãy sợ Allah, Đấng đã tạo hóa các người và những thế hệ trước.”
آية رقم 185
ﭗﭘﭙﭚﭛ
ﭜ
(Đám dân Aikah đáp lại lời kêu gọi của Shu’aib), nói :“Quả thật, ngươi đã bị trúng tà.”
آية رقم 186
“Ngươi chẳng qua cũng chỉ là một người phàm như bọn ta và bọn ta nghĩ ngươi là tên nói dối.”
آية رقم 187
“Nhưng nếu ngươi nói thật thì ngươi hãy khiến cho một phần của bầu trời rơi xuống đè bọn ta thử xem nào.”
آية رقم 188
ﭱﭲﭳﭴﭵ
ﭶ
(Shu’aib) nói với họ: “Thượng Đế của Ta, Ngài biết rõ điều mà các người làm.”
آية رقم 189
Họ đã phủ nhận (Shu’aib). Cho nên, họ đã bị hình phạt túm lấy vào một ngày tối trời, đó là sự trừng phạt của một Ngày Vĩ Đại.
آية رقم 190
Quả thật, trong sự việc đó là một dấu hiệu (bài học cho những ai phủ nhận và không vâng lời các vị Thiên Sứ của Allah); tuy nhiên, đa số bọn họ không có đức tin.
آية رقم 191
ﮍﮎﮏﮐﮑ
ﮒ
Quả thật, Thượng Đế của Ngươi là Đấng Quyền Lực, Nhân Từ.
آية رقم 192
ﮓﮔﮕﮖ
ﮗ
Quả thật, Nó (Qur’an) đích thực được Thượng Đế của vũ trụ ban xuống.
آية رقم 193
ﮘﮙﮚﮛ
ﮜ
Do Ruh (đại Thiên Thần Jibril) đáng tin mang Nó xuống.
آية رقم 194
ﮝﮞﮟﮠﮡ
ﮢ
Đặt vào con tim của Ngươi (Thiên Sứ Muhammad) để Ngươi trở thành một Người cảnh báo.
آية رقم 195
ﮣﮤﮥ
ﮦ
Bằng tiếng Ả-rập rõ ràng.
آية رقم 196
ﮧﮨﮩﮪ
ﮫ
Nó quả thật đã được nhắc đến trong những Kinh Sách trước.
آية رقم 197
Lẽ nào không có một dấu hiệu nào cho (những kẻ phủ nhận) trong khi các học giả của dân Israel biết rõ Nó?
آية رقم 198
ﯗﯘﯙﯚﯛ
ﯜ
Nếu TA thực sự đã thiên khải Nó xuống cho một số người không phải dân Ả-rập.
آية رقم 199
ﯝﯞﯟﯠﯡﯢ
ﯣ
Rồi y đọc lại cho họ nghe thì chắc rằng họ đã không tin vào Nó.
آية رقم 200
ﯤﯥﯦﯧﯨ
ﯩ
Bằng cách đó, TA đã làm nó (sự vô đức tin) thấm nhuần vào tim của những kẻ tội lỗi.
آية رقم 201
Họ sẽ không tin tưởng Nó cho đến khi họ thấy được sự trừng phạt đau đớn.
آية رقم 202
ﯲﯳﯴﯵﯶ
ﯷ
Nó sẽ bất ngờ túm lấy họ trong lúc họ không hay biết.
آية رقم 203
ﯸﯹﯺﯻ
ﯼ
Lúc đó họ sẽ nói: “Chúng tôi có được gia hạn thêm không?”
آية رقم 204
ﯽﯾ
ﯿ
Vậy sao họ lại hối thúc hình phạt mau đến?
آية رقم 205
ﰀﰁﰂﰃ
ﰄ
Há Ngươi (hỡi Thiên Sứ Muhammad) có nhận thấy rằng việc TA cho họ hưởng lạc thêm nhiều năm nữa,
آية رقم 206
ﰅﰆﰇﰈﰉ
ﰊ
Rồi sau đó, hình phạt đã được hứa mới đến chụp bắt họ,
آية رقم 207
ﭑﭒﭓﭔﭕﭖ
ﭗ
Thì việc hưởng thụ đó chẳng giúp ích gì cho họ cả?
آية رقم 208
TA đã không tiêu diệt bất cứ ngôi làng nào ngoại trừ đã có những người đến cảnh báo nó.
آية رقم 209
ﭠﭡﭢﭣ
ﭤ
Như một sự nhắc nhở (đến cư dân của nó) bởi lẽ TA không hề bất công.
آية رقم 210
ﭥﭦﭧﭨ
ﭩ
(Qur’an) không phải do những tên Shaytan mang xuống.
آية رقم 211
ﭪﭫﭬﭭﭮ
ﭯ
Việc làm này không thích hợp cho chúng và chúng cũng không có khả năng (cho việc này).
آية رقم 212
ﭰﭱﭲﭳ
ﭴ
Quả thật chúng đã bị đuổi ra xa không được cho nghe (Qur’an).
آية رقم 213
Do đó, Ngươi chớ cầu nguyện bất cứ thần linh nào khác cùng với Allah, nếu không Ngươi sẽ cùng nhóm với đám người bị trừng phạt.
آية رقم 214
ﭿﮀﮁ
ﮂ
Ngươi (hỡi Thiên Sứ Muhammad) hãy cảnh báo họ hàng thân tộc của Ngươi.
آية رقم 215
ﮃﮄﮅﮆﮇﮈ
ﮉ
Ngươi hãy cư xử từ tốn và nhẹ nhàng với những người có đức tin theo Ngươi.
آية رقم 216
Nếu họ bất tuân Ngươi thì Ngươi hãy nói: “Ta vô can với những điều các người làm.”
آية رقم 217
ﮒﮓﮔﮕ
ﮖ
Ngươi hãy phó thác cho Đấng Quyền Lực, Nhân Từ.
آية رقم 218
ﮗﮘﮙﮚ
ﮛ
Đấng mà Ngài nhìn thấy Ngươi khi Ngươi đứng lễ nguyện Salah.
آية رقم 219
ﮜﮝﮞ
ﮟ
(Ngài nhìn thấy Ngươi) cả lúc Ngươi đổi động tác cúi xuống quỳ lạy.
آية رقم 220
ﮠﮡﮢﮣ
ﮤ
ởi Ngài đích thực là Đấng Hằng Nghe, Toàn Tri.
آية رقم 221
ﮥﮦﮧﮨﮩﮪ
ﮫ
Các ngươi có muốn TA nói cho biết ai là kẻ mà lũ Shaytan thường xuống gặp không?
آية رقم 222
ﮬﮭﮮﮯﮰ
ﮱ
(Shaytan) thường hay đến gặp những kẻ nói dối và tội lỗi.
آية رقم 223
ﯓﯔﯕﯖ
ﯗ
Chúng nói lại những thứ nghe được nhưng đa phần là bịa đặt.
____________________
(2) Những tên Jinn Shaytan nghe trộm những điều ở trên trời rồi truyền lại những gì nghe được cho những kẻ bói toán nhưng đa số những tên thầy bói đều là những kẻ nói dối. Shaytan bịa đặt một điều dối, những tên thầy bói bịa đặt thêm cả trăm điều.
____________________
(2) Những tên Jinn Shaytan nghe trộm những điều ở trên trời rồi truyền lại những gì nghe được cho những kẻ bói toán nhưng đa số những tên thầy bói đều là những kẻ nói dối. Shaytan bịa đặt một điều dối, những tên thầy bói bịa đặt thêm cả trăm điều.
آية رقم 224
ﯘﯙﯚ
ﯛ
Và chỉ những kẻ lầm lạc mới nghe theo những tên thi sĩ.
آية رقم 225
Lẽ nào Ngươi không thấy họ lang thang vơ vẩn trong mỗi thung lũng để ngâm thơ hay sao?
آية رقم 226
ﯤﯥﯦﯧﯨ
ﯩ
Quả thật, họ chỉ nói những điều họ không làm.
آية رقم 227
Ngoại trừ (những thi sĩ) có đức tin, làm việc thiện tốt, tụng niệm Allah nhiều và đã giành được thắng lợi sau khi đã bị đối xử bất công. Và những kẻ sai quấy sẽ sớm biết đâu là nơi mà mình sẽ phải quay về.
تقدم القراءة