ترجمة معاني سورة الشعراء باللغة الفيتنامية من كتاب الترجمة الفيتنامية
حسن عبد الكريم
الترجمة الإنجليزية - صحيح انترناشونال
المنتدى الإسلامي
الترجمة الإنجليزية
الترجمة الفرنسية - المنتدى الإسلامي
نبيل رضوان
الترجمة الإسبانية
محمد عيسى غارسيا
الترجمة الإسبانية - المنتدى الإسلامي
الترجمة الإسبانية (أمريكا اللاتينية) - المنتدى الإسلامي
المنتدى الإسلامي
الترجمة البرتغالية
حلمي نصر
الترجمة الألمانية - بوبنهايم
عبد الله الصامت
الترجمة الألمانية - أبو رضا
أبو رضا محمد بن أحمد بن رسول
الترجمة الإيطالية
عثمان الشريف
الترجمة التركية - مركز رواد الترجمة
فريق مركز رواد الترجمة بالتعاون مع موقع دار الإسلام
الترجمة التركية - شعبان بريتش
شعبان بريتش
الترجمة التركية - مجمع الملك فهد
مجموعة من العلماء
الترجمة الإندونيسية - شركة سابق
شركة سابق
الترجمة الإندونيسية - المجمع
وزارة الشؤون الإسلامية الأندونيسية
الترجمة الإندونيسية - وزارة الشؤون الإسلامية
وزارة الشؤون الإسلامية الأندونيسية
الترجمة الفلبينية (تجالوج)
مركز رواد الترجمة بالتعاون مع موقع دار الإسلام
الترجمة الفارسية - دار الإسلام
فريق عمل اللغة الفارسية بموقع دار الإسلام
الترجمة الفارسية - حسين تاجي
حسين تاجي كله داري
الترجمة الأردية
محمد إبراهيم جوناكري
الترجمة البنغالية
أبو بكر محمد زكريا
الترجمة الكردية
حمد صالح باموكي
الترجمة البشتوية
زكريا عبد السلام
الترجمة البوسنية - كوركت
بسيم كوركورت
الترجمة البوسنية - ميهانوفيتش
محمد مهانوفيتش
الترجمة الألبانية
حسن ناهي
الترجمة الأوكرانية
ميخائيلو يعقوبوفيتش
الترجمة الصينية
محمد مكين الصيني
الترجمة الأويغورية
محمد صالح
الترجمة اليابانية
روايتشي ميتا
الترجمة الكورية
حامد تشوي
الترجمة الفيتنامية
حسن عبد الكريم
الترجمة الكازاخية - مجمع الملك فهد
خليفة الطاي
الترجمة الكازاخية - جمعية خليفة ألطاي
جمعية خليفة الطاي الخيرية
الترجمة الأوزبكية - علاء الدين منصور
علاء الدين منصور
الترجمة الأوزبكية - محمد صادق
محمد صادق محمد
الترجمة الأذرية
علي خان موساييف
الترجمة الطاجيكية - عارفي
فريق متخصص مكلف من مركز رواد الترجمة بالشراكة مع موقع دار الإسلام
الترجمة الطاجيكية
خوجه ميروف خوجه مير
الترجمة الهندية
مولانا عزيز الحق العمري
الترجمة المليبارية
عبد الحميد حيدر المدني
الترجمة الغوجراتية
رابيلا العُمري
الترجمة الماراتية
محمد شفيع أنصاري
الترجمة التلجوية
مولانا عبد الرحيم بن محمد
الترجمة التاميلية
عبد الحميد الباقوي
الترجمة السنهالية
فريق مركز رواد الترجمة بالتعاون مع موقع دار الإسلام
الترجمة الأسامية
رفيق الإسلام حبيب الرحمن
الترجمة الخميرية
جمعية تطوير المجتمع الاسلامي الكمبودي
الترجمة النيبالية
جمعية أهل الحديث المركزية
الترجمة التايلاندية
مجموعة من جمعية خريجي الجامعات والمعاهد بتايلاند
الترجمة الصومالية
محمد أحمد عبدي
الترجمة الهوساوية
الترجمة الأمهرية
محمد صادق
الترجمة اليورباوية
أبو رحيمة ميكائيل أيكوييني
الترجمة الأورومية
الترجمة التركية للمختصر في تفسير القرآن الكريم
مركز تفسير للدراسات القرآنية
الترجمة الفرنسية للمختصر في تفسير القرآن الكريم
مركز تفسير للدراسات القرآنية
الترجمة الإندونيسية للمختصر في تفسير القرآن الكريم
مركز تفسير للدراسات القرآنية
الترجمة الفيتنامية للمختصر في تفسير القرآن الكريم
مركز تفسير للدراسات القرآنية
الترجمة البوسنية للمختصر في تفسير القرآن الكريم
مركز تفسير للدراسات القرآنية
الترجمة الإيطالية للمختصر في تفسير القرآن الكريم
مركز تفسير للدراسات القرآنية
الترجمة الفلبينية (تجالوج) للمختصر في تفسير القرآن الكريم
مركز تفسير للدراسات القرآنية
الترجمة الفارسية للمختصر في تفسير القرآن الكريم
مركز تفسير للدراسات القرآنية
Dr. Ghali - English translation
Muhsin Khan - English translation
Pickthall - English translation
Yusuf Ali - English translation
Azerbaijani - Azerbaijani translation
Sadiq and Sani - Amharic translation
Farsi - Persian translation
Finnish - Finnish translation
Muhammad Hamidullah - French translation
Korean - Korean translation
Maranao - Maranao translation
Abdul Hameed and Kunhi Mohammed - Malayalam translation
Salomo Keyzer - Flemish (Dutch) translation
Norwegian - Norwegian translation
Samir El - Portuguese translation
Polish - Polish translation
Romanian - Romanian translation
Elmir Kuliev - Russian translation
Albanian - Albanian translation
Tatar - Tatar translation
Japanese - Japanese translation
محمد جوناگڑھی - Urdu translation
Ma Jian - Chinese translation
Turkish - Turkish translation
King Fahad Quran Complex - Thai translation
Ali Muhsin Al - Swahili translation
Abdullah Muhammad Basmeih - Malay translation
Hamza Roberto Piccardo - Italian translation
Indonesian - Indonesian translation
Bubenheim & Elyas - German / Deutsch translation
Bosnian - Bosnian translation
Hasan Efendi Nahi - Albanian translation
Sherif Ahmeti - Albanian translation
Sahih International - English translation
Czech - Czech translation
Abul Ala Maududi(With tafsir) - English translation
Tajik - Tajik translation
Alikhan Musayev - Azerbaijani translation
Muhammad Saleh - Uighur; Uyghur translation
Abdul Haleem - English translation
Mufti Taqi Usmani - English translation
Muhammad Karakunnu and Vanidas Elayavoor - Malayalam translation
Sheikh Isa Garcia - Spanish; Castilian translation
Divehi - Divehi; Dhivehi; Maldivian translation
Abubakar Mahmoud Gumi - Hausa translation
Mahmud Muhammad Abduh - Somali translation
Knut Bernström - Swedish translation
Jan Trust Foundation - Tamil translation
Mykhaylo Yakubovych - Ukrainian translation
Uzbek - Uzbek translation
Diyanet Isleri - Turkish translation
Ministry of Awqaf, Egypt - Russian translation
Abu Adel - Russian translation
Burhan Muhammad - Kurdish translation
Dr. Mustafa Khattab, The Clear Quran - English translation
Dr. Mustafa Khattab - English translation
الترجمة الإنجليزية - مركز رواد الترجمة
الترجمة الفرنسية - محمد حميد الله
الترجمة البوسنية - مركز رواد الترجمة
الترجمة الصربية - مركز رواد الترجمة - جار العمل عليها
الترجمة الألبانية - مركز رواد الترجمة - جار العمل عليها
الترجمة اليابانية - سعيد ساتو
الترجمة الفيتنامية - مركز رواد الترجمة
الترجمة التاميلية - عمر شريف
الترجمة السواحلية - عبد الله محمد وناصر خميس
الترجمة اللوغندية - المؤسسة الإفريقية للتنمية
الترجمة الإنكو بامبارا - ديان محمد
الترجمة العبرية
الترجمة الإنجليزية للمختصر في تفسير القرآن الكريم
الترجمة الروسية للمختصر في تفسير القرآن الكريم
الترجمة البنغالية للمختصر في تفسير القرآن الكريم
الترجمة الصينية للمختصر في تفسير القرآن الكريم
الترجمة اليابانية للمختصر في تفسير القرآن الكريم
ترجمة معاني القرآن الكريم - عادل صلاحي
عادل صلاحي
ﰡ
آية رقم 1
ﭑ
ﭒ
Ta. Sin. Mim.
آية رقم 2
ﭓﭔﭕﭖ
ﭗ
Đây là những Câu của một Kinh Sách minh bạch.
آية رقم 3
ﭘﭙﭚﭛﭜﭝ
ﭞ
Có lẽ Ngươi tự huỷ mình vì buồn rầu về việc chúng không tin tưởng.
آية رقم 4
Nếu muốn, TA có thể gởi từ trên trời xuống một phép lạ mà chúng sẽ cúi cổ xuống thần phục.
آية رقم 5
Và không một điều nhắc nhở mới nào của Đấng Rất Mực Độ Lượng được ban xuống cho chúng mà chúng lại không quay mặt lánh xa.
آية رقم 6
Bởi thế, chắc chắn chúng đã phủ nhận Chân Lý; rồi đây chúng sẽ nhận tin tức về những điều mà chúng đã từng chế giễu.
آية رقم 7
Và há chúng đã không quan sát trái đất, nơi mà TA đã làm mọc ra bao nhiêu cặp cây cối quí hóa hay sao?
آية رقم 8
trong đó là một dấu hiệu; nhưng đa số bọn chúng không tin.
آية رقم 9
ﮖﮗﮘﮙﮚ
ﮛ
Và Thượng Đế của Ngươi là Đấng Toàn Năng, Đấng Rất Mực Khoan Dung.
آية رقم 10
Và (hãy nhớ) khi Thượng Đế của Ngươi gọi Musa (phán bảo): "Nhà ngươi hãy đi gặp một đám người làm điều sai quấy"
آية رقم 11
ﮥﮦﮧﮨﮩ
ﮪ
“Đám người của Fir-'awn há chúng không sợ Allah hay sao?”
آية رقم 12
ﮫﮬﮭﮮﮯﮰ
ﮱ
(Musa) thưa: "Lạy Thượng Đế! Bề tôi sợ chúng sẽ cho bề tôi nói dối."
آية رقم 13
“Và lòng ngực của bề tôi chật hẹp và chiếc lưỡi của bề tôi cử động không nhanh chống. Xin Ngài cho gọi Harun đến (giúp bề tôi)."
آية رقم 14
ﯜﯝﯞﯟﯠﯡ
ﯢ
“Và chúng buộc tội bề tôi đã phạm một trọng tội; do đó bề tôi sợ chúng sẽ giết bề tôi.”
آية رقم 15
(Allah) phán: "Không sao cả! Hai ngươi cứ lên đường với những Phép Lạ của TA. TA sẽ ở cùng với các ngươi, lắng nghe."
آية رقم 16
"Bởi thế, hai ngươi cứ đi gặp Fir-'awn bảo (y): Chúng tôi là Sứ Giả của Thượng Đế của vũ trụ và muôn loài."
آية رقم 17
ﯵﯶﯷﯸﯹ
ﯺ
“Xin ngài cho phép con cháu của Israel ra đi với chúng tôi.”
آية رقم 18
(Fir-'awn) bảo (Musa): "Há bọn ta đã không thương yêu và nuôi nấng ngươi như con cái trong (nhà của) bọn ta và ngươi đã ở với bọn ta nhiều năm trong đời ngươi hay sao?"
آية رقم 19
“Thế mà nhà ngươi đã nhẫn tâm làm một việc (sát nhân) mà ngươi đã làm. Và nhà ngươi là một tên phụ ơn.”
آية رقم 20
ﭑﭒﭓﭔﭕﭖ
ﭗ
(Musa) đáp: "Tôi làm điều đó vào lúc tôi nhầm lẫn."
آية رقم 21
"Và vì sợ quí ngài nên tôi đã phải bỏ trốn đi xa và Thượng Đế của tôi đã ban cho tôi lý giải khôn ngoan và cử tôi làm một Sứ Giả của Ngài."
آية رقم 22
“Đấy là ân xưa mà ngài đã nại ra để khiển trách tôi; và ngài đã bắt con cháu của Israel làm nô lệ.”
آية رقم 23
ﭭﭮﭯﭰﭱ
ﭲ
Fir-'awn lên tiếng: “Và Thượng Đế của vũ trụ và muôn loài là gì chứ?”
آية رقم 24
Musa đáp: “Thượng Đế của các tầng trời và trái đất và vạn vật giữa trời đất nếu quí ngài muốn có một niềm tin vững chắc (về Ngài).”
آية رقم 25
ﭾﭿﮀﮁﮂ
ﮃ
(Fir-'awn) nói với cận thần: “Há các khanh không nghe rõ?”
آية رقم 26
ﮄﮅﮆﮇﮈ
ﮉ
(Musa) tiếp: “Thượng Đế của quí ngài và của tổ tiên của quí ngài.”
آية رقم 27
(Fir-'awn) bảo: “Quả thật, Sứ Giả của các ngươi là một thằng điên!”
آية رقم 28
(Musa) tiếp: “Thượng Đế của phương đông và phương tây và vạn vật nằm giữa hai phương đó, nếu quí vị thông hiểu được.”
آية رقم 29
(Fir-'awn) bảo: “Nếu nhà ngươi quả quyết tôn thờ một Thượng Đế khác thay vì ta thì chắc chắn ta se bỏ tù nhà ngươi.”
آية رقم 30
ﮦﮧﮨﮩﮪ
ﮫ
(Musa) đáp: “Sao! Dẫu cho tôi có trưng bày cho ngài thấy một điều minh bạch.”
آية رقم 31
(Fir-'awn) bảo: “Thế hãy đưa nó (phép lạ) ra xem nếu nhà ngươi là một người nói thật.”
آية رقم 32
ﯕﯖﯗﯘﯙﯚ
ﯛ
Bởi thế, Musa ném chiếc gậy của Y xuống thì nó biến thành một con rắn rõ rệt.
آية رقم 33
ﯜﯝﯞﯟﯠﯡ
ﯢ
Và khi đưa bàn tay của Y ra, nó hiện ra trắng toát trước mặt những người đứng nhìn.
آية رقم 34
Fir-'awn quay bảo các cận thần: "Tên này quả thật là một tên phù thủy tài giỏi."
آية رقم 35
“Y định dùng pháp thuật để đánh đuổi các khanh ra khỏi lãnh thổ của các khanh. Thế các khanh định làm gì y?”
آية رقم 36
(Chư thần) thưa: "Hãy tạm tha cho y và người em của y (trong một thời gian) và cử những người loan tin đi khắp các thị trấn."
آية رقم 37
ﯼﯽﯾﯿ
ﰀ
“Nhờ triệu về cho ngài tất cả những nhà phù thủy tài giỏi.”
آية رقم 38
ﰁﰂﰃﰄﰅ
ﰆ
Do đó, những nhà phù thủy được triệu tập tại một nơi hẹn vào một ngày đã được công bố rõ.
آية رقم 39
ﰇﰈﰉﰊﰋ
ﰌ
Và có lời bảo người dân: "Há quí vị không đi dự đại hội hay sao?"
آية رقم 40
“Có lẽ chúng tôi sẽ theo các nhà phù thủy nếu họ thắng cuộc.”
آية رقم 41
Bởi thế, khi đến nơi, những nhà phù thủy thưa với Fir-'awn: “Chúng tôi sẽ được ân thưởng chăng nếu chúng tối thắng cuộc?”
آية رقم 42
ﭦﭧﭨﭩﭪﭫ
ﭬ
(Fir-'awn) đáp: “Vâng, có chứ! Chắc chắn lúc đó các ngươi sẽ là cận thần của ta.”
آية رقم 43
Musa bảo họ: “Hãy ném bảo vật của quí vị xuống.”
آية رقم 44
Do đó, họ ném những sợi dây và chiếc gậy của họ xuống và nói: “Nhờ quyền lực của Fir-'awn, chắc chắn chúng tôi sẽ thắng cuộc.”
آية رقم 45
Nhưng khi Musa ném chiếc gậy của Y xuống, tức thời nó nuốt mất những món vật mà họ đã làm giả.
آية رقم 46
ﮈﮉﮊ
ﮋ
Bởi thế, những tên phù thủy (khiếp sợ) sụp xuống quỳ lạy.
آية رقم 47
ﮌﮍﮎﮏ
ﮐ
Và lên tiếng: "Chúng tôi tin tưởng nơi Thượng Đế của vũ trụ và muôn loài."
آية رقم 48
ﮑﮒﮓ
ﮔ
“Thượng Đế của Musa và của Harun.”
آية رقم 49
(Fir-'awn) bảo: “Các ngươi cả tin nơi y trước khi ta cho phép các ngươi hay sao? Y quả là tên đầu não của các ngươi; Y đã dạy các ngươi pháp thuật; rồi đây các ngươi sẽ sớm biết hậu quả. Chắc chắn, ta sẽ cho chặt tay và chân của các ngươi mỗi bên một cánh và sẽ cho đóng đinh các ngươi trên thập tự giá, tất cả, không sót một tên nào.”
آية رقم 50
Họ đồng thanh đáp: “Chẳng có gì thiệt cả. (Bởi vì) chúng tôi sẽ trở về gặp Thượng Đế của chúng tôi trở lại
آية رقم 51
“Chúng tôi mong Thượng Đế chúng tôi sẽ tha thứ cho chúng tôi những lỗi lầm của chúng tôi bởi vì chúng tôi là những người tin tưởng đầu tiên.”
آية رقم 52
Và TA đã mặc khải cho Musa phán: “Nhà ngươi hãy dẫn bầy tôi của TA ra đi ban đêm. Thật sự, các ngươi sẽ bị truy nã.”
آية رقم 53
ﯭﯮﯯﯰﯱ
ﯲ
Bởi thế, Fir-'awn phái những người loan tin đi khắp các thị trấn.
آية رقم 54
ﯳﯴﯵﯶ
ﯷ
“Quả thật, những người (Israel) này chỉ là một nhóm nhỏ."
آية رقم 55
ﯸﯹﯺ
ﯻ
"Quả thật, chúng đã phạm tội khi quân chọc giận bọn ta."
آية رقم 56
ﯼﯽﯾ
ﯿ
“Nhưng tất cả bọn ta đã cảnh giác trước”
آية رقم 57
ﰀﰁﰂﰃ
ﰄ
Bởi thế, TA đã đưa bọn chúng ra khỏi hoa viên và suối nước,
آية رقم 58
ﰅﰆﰇ
ﰈ
Và rời khỏi những kho tàng châu báu và địa vị cao sang.
آية رقم 59
ﰉﰊﰋﰌﰍ
ﰎ
Đúng như thế. Và TA đã cho con cháu của Israel thừa kế chúng.
آية رقم 60
ﰏﰐ
ﰑ
Rồi chúng đuổi theo bắt họ vào lúc hừng đông.
آية رقم 61
Bởi thế, khi hai đoàn người đối diện nhau, các tông đồ của Musa nói: “Chắc chắn chúng ta sắp bị truy sát rồi.”
آية رقم 62
(Musa) bảo: “Không hề gì! Thượng Đế của ta ở với ta, và sẽ hướng dẫn ta.”
آية رقم 63
Liền đó, TA đã mặc khải cho Musa, phán: “Hãy dùng chiếc gậy của ngươi mà đánh xuống mặt biển!” Tức thời, biền rẽ ra làm hai, biến thành bức thành đứng sừng sững như một quả núi vĩ đại.
آية رقم 64
ﭱﭲﭳ
ﭴ
Và TA đưa đám (người bị truy nã) kia đến gần nơi đó.
آية رقم 65
ﭵﭶﭷﭸﭹ
ﭺ
Và TA đã cứu nguy Musa và những ai theo Y, tất cả.
آية رقم 66
ﭻﭼﭽ
ﭾ
Rồi TA đã nhận đám kia chết chìm.
آية رقم 67
Quả thật, trong biến cố đó là một bài học; nhưng đa số bọn chúng không là những người tin tưởng.
آية رقم 68
ﮉﮊﮋﮌﮍ
ﮎ
Và quả thật Thượng Đế (Allah) của Ngươi là Đấng Toàn Năng, Đấng Rất Mực Khoan Dung.
آية رقم 69
ﮏﮐﮑﮒ
ﮓ
Và hãy đọc cho chúng (người Quraish) câu chuyện của Ibrahim.
آية رقم 70
ﮔﮕﮖﮗﮘﮙ
ﮚ
Khi Y thưa với phụ thân và người dân của Y: “Vật gì quí vị đang thờ phụng vậy?”
آية رقم 71
ﮛﮜﮝﮞﮟﮠ
ﮡ
Họ đáp: “Bọn ta đang thờ các tượng thần và rất đỗi sùng kính họ.”
آية رقم 72
ﮢﮣﮤﮥﮦ
ﮧ
(Ibrahim) bảo: "Chúng có nghe được quí vị chăng khi quí vị gọi chúng?"
آية رقم 73
ﮨﮩﮪﮫ
ﮬ
“Hoặc chúng có giúp ích hay hãm hại được quí vị chăng?”
آية رقم 74
ﮭﮮﮯﮰﮱﯓ
ﯔ
Họ đáp: “Không, nhưng bọn ta thấy cha mẹ của bọn ta đã làm thế.”
آية رقم 75
ﯕﯖﯗﯘﯙ
ﯚ
(Ibrahim) bảo: “Thế quí vị có quan sát đồ vật mà quí vị đang tôn thờ chăng?"
آية رقم 76
ﯛﯜﯝ
ﯞ
“Quí vị lẫn tổ tiên xa xưa của quí vị?"
آية رقم 77
ﯟﯠﯡﯢﯣﯤ
ﯥ
“Nhưng, chúng là kẻ thù của tôi ngoại trừ Thượng Đế của vũ trụ và muôn loài."
آية رقم 78
ﯦﯧﯨﯩ
ﯪ
“Đấng đã tạo ra tôi, rồi hướng dẫn tôi."
آية رقم 79
ﯫﯬﯭﯮ
ﯯ
“Và là Đấng đã cho tôi ăn và uống."
آية رقم 80
ﯰﯱﯲﯳ
ﯴ
“Và là Đấng đã chữa lành tôi khi tôi mắc bệnh."
آية رقم 81
ﯵﯶﯷﯸ
ﯹ
“Và là Đấng sẽ gây cho tôi chết rồi phục sinh tôi trở lại."
آية رقم 82
“Và là Đấng mà tôi hy vọng sẽ tha thứ cho tôi về những lỗi lầm của tôi vào Ngày Xét xử."
آية رقم 83
ﰃﰄﰅﰆﰇﰈ
ﰉ
“Lạy Thượng Đế của bề tôi! Xin Ngài ban cho bề tôi thông thái khôn ngoan và dung nạp bề tôi chung với những người đức hạnh."
آية رقم 84
ﭑﭒﭓﭔﭕﭖ
ﭗ
“Và vinh danh bề tôi nơi những thế hệ tương lai."
آية رقم 85
ﭘﭙﭚﭛﭜ
ﭝ
“Và biến bề tôi thành một người thừa kế thiên đàng Hạnh phúc."
آية رقم 86
ﭞﭟﭠﭡﭢﭣ
ﭤ
“Và tha thứ cho phụ thân của bề tồi bởi vì người là một người lầm lạc."
آية رقم 87
ﭥﭦﭧﭨ
ﭩ
“Và chớ hạ nhục bề tôi vào Ngày mà nhân loại sẽ được phục sinh."
آية رقم 88
ﭪﭫﭬﭭﭮﭯ
ﭰ
“Ngày mà của cải cũng như con cái sẽ không giúp ích được ai."
آية رقم 89
ﭱﭲﭳﭴﭵﭶ
ﭷ
Ngoại trừ ai mang đến cho Allah một tấm lòng trong sạch.
آية رقم 90
ﭸﭹﭺ
ﭻ
Và thiên đàng sẽ được mang đến gần những người sợ Allah.
آية رقم 91
ﭼﭽﭾ
ﭿ
Và hỏa ngục sẽ được mang đến trước mặt những kẻ lạc lối.
آية رقم 92
ﮀﮁﮂﮃﮄﮅ
ﮆ
Và có lời bảo chúng: “Đâu là những vật mà các người đã tôn thờ,
آية رقم 93
“Khác Allah? Há chúng có thể giải cứu các ngươi hoặc tự cứu?”
آية رقم 94
ﮏﮐﮑﮒ
ﮓ
Bởi thế, chúng sẽ bị lùa vào hỏa ngục, chúng và đám quỉ quái.
آية رقم 95
ﮔﮕﮖ
ﮗ
Và cả binh tướng của Iblis nữa, tất cả.
آية رقم 96
ﮘﮙﮚﮛ
ﮜ
Và trong lúc cãi vã nhau trong đó, chúng sẽ nói:
آية رقم 97
ﮝﮞﮟﮠﮡﮢ
ﮣ
“Thề với Allah, chúng tôi là những kẻ đã công khai lầm lạc."
آية رقم 98
ﮤﮥﮦﮧ
ﮨ
“Khi chúng tôi suy tôn quí vị ngang vai với Thượng Đế của vũ trụ và muôn loài."
آية رقم 99
ﮩﮪﮫﮬ
ﮭ
"Và chỉ những tên kẻ tội lỗi đã dắt chúng tôi đi lạc."
آية رقم 100
ﮮﮯﮰﮱ
ﯓ
“Bởi thế, chúng tôi không có ai can thiệp."
آية رقم 101
ﯔﯕﯖ
ﯗ
“Cũng không có một người bạn chân tình nào (để giúp đỡ)."
آية رقم 102
“Giá có dịp trở lại (trần gian) thì chúng tôi sẽ tin tưởng.”
آية رقم 103
Trong đó là một dấu hiệu, nhưng đa số bọn chúng không tin.
آية رقم 104
ﯪﯫﯬﯭﯮ
ﯯ
Và Thượng Đế của Ngươi là Đấng Toàn Năng, Đấng Rất Mực Khoan Dung.
آية رقم 105
ﯰﯱﯲﯳ
ﯴ
Người dần của Nuh đã cho những Sứ Giả (của Allah) nói dối,
آية رقم 106
Khi người anh em của họ, Nuh, bảo: “Các người không sợ Allah ư?"
آية رقم 107
ﯽﯾﯿﰀ
ﰁ
“Quả thật, Ta là một Sứ Giả đáng tin cậy đến với các người.
آية رقم 108
ﰂﰃﰄ
ﰅ
“Bởi thế, hãy sợ Allah và nghe theo Ta."
آية رقم 109
“Và Ta không đòi hỏi các người tưởng thưởng Ta về nó. Chỉ Thượng Đế của vũ trụ và muôn loài sẽ ân thưởng Ta."
آية رقم 110
ﰓﰔﰕ
ﰖ
“Do đó, hãy sợ Allah và nghe theo Ta.”
آية رقم 111
ﰗﰘﰙﰚﰛﰜ
ﰝ
Họ đáp: “Bọn ta phải tin tưởng ngươi hay sao trong lúc chỉ có những kẻ bần cùng đi theo ngươi?”
آية رقم 112
ﭑﭒﭓﭔﭕﭖ
ﭗ
(Nuh) bảo: “Ta đâu biết điều họ đã từng làm."
آية رقم 113
“Chỉ Thượng Đế của Ta nắm hồ sơ của họ, nếu các người nhận thấy."
آية رقم 114
ﭡﭢﭣﭤ
ﭥ
“Và Ta không phải là người xua đuổi những người có đức tin."
آية رقم 115
ﭦﭧﭨﭩﭪ
ﭫ
“Mà chỉ là một người cảnh cáo công khai.”
آية رقم 116
Họ nói: “Nếu không chịu ngưng, hỡi Nuh!, bọn ta sẽ ném đá giết ngươi.”
آية رقم 117
ﭵﭶﭷﭸﭹ
ﭺ
(Nuh), thưa: “Lạy Thượng Đế! Người dân của bề tôi phủ nhận bề tôi."
آية رقم 118
“Bởi thế, xin Ngài công minh phân xử giữa bề tôi và họ và xin giải cứu bề tôi và ai là người tin tưởng tuân theo bề tôi.”
آية رقم 119
ﮅﮆﮇﮈﮉﮊ
ﮋ
Do đó, TA đã giải cứu Y và những người theo Y trên một chiếc tàu chở đầy (người và thú vật).
آية رقم 120
ﮌﮍﮎﮏ
ﮐ
Rồi, TA nhận đám người còn lại chết chìm dưới nước (lụt).
آية رقم 121
Trong đó là một dấu hiệu nhưng đa số bọn chúng không tin.
آية رقم 122
ﮛﮜﮝﮞﮟ
ﮠ
Và Thượng Đế của Ngươi là Đấng Toàn Năng, Đấng Rất Mực Khoan Dung.
آية رقم 123
ﮡﮢﮣ
ﮤ
(Người dân) 'Ad đã cho những Sứ Giả của Allah nói dối.
آية رقم 124
Khi người anh em của họ, Hud, bảo: “Các người không sợ Allah ư?"
آية رقم 125
ﮭﮮﮯﮰ
ﮱ
"Ta thực sự là một Sứ Giả đáng tin cậy (đến) với các người."
آية رقم 126
ﯓﯔﯕ
ﯖ
“Do đó, hãy sợ Allah và nghe theo Ta."
آية رقم 127
"Ta không đòi hỏi các người tưởng thưởng ta về nó (Thông Điệp của Allah). Thượng Đế của vũ trụ và muôn loài sẽ ân thưởng Ta."
آية رقم 128
ﯤﯥﯦﯧﯨ
ﯩ
“Phải chăng các người đã xây cất trên mỗi ngọn đồi cao (biệt thự làm) một cảnh giới để khoe khoang?"
آية رقم 129
ﯪﯫﯬﯭ
ﯮ
“Phải chăng các người đã xây cất những lâu đài kiên cố để mong ở trong đó vĩnh viễn?"
آية رقم 130
ﯯﯰﯱﯲ
ﯳ
“Và khi các người tước đoạt, các người bóc lột như những bạo chúa."
آية رقم 131
ﯴﯵﯶ
ﯷ
“Bởi thế, hãy sợ Allah và nghe theo Ta."
آية رقم 132
ﯸﯹﯺﯻﯼ
ﯽ
“Và hãy sợ Đấng đã trợ giúp các người với những vật mà các người đã từng biết."
آية رقم 133
ﯾﯿﰀ
ﰁ
“Ngài đã giúp đỡ các người với gia súc và con cái."
آية رقم 134
ﰂﰃ
ﰄ
“Và hoa viên và suối nước."
آية رقم 135
ﰅﰆﰇﰈﰉﰊ
ﰋ
"Ta sợ giùm cho các người về sự trừng phạt của một Ngày vĩ đại.”
آية رقم 136
Họ đáp: “Ông có cảnh cáo hay không cảnh cáo đi nữa, điều đó bằng thừa đối với chúng tôi."
آية رقم 137
ﭑﭒﭓﭔﭕ
ﭖ
“Công việc này của ông chỉ là một phong cách của người xưa."
آية رقم 138
ﭗﭘﭙ
ﭚ
“Và chúng tôi sẽ không bị trừng phạt đau đớn.”
آية رقم 139
Bởi thế, chúng đã cho Y nói dối. Cho nên, TA đã tiêu diệt chúng. Trong đó là một dấu hiệu. Nhưng đa số bọn chúng không tin.
آية رقم 140
ﭨﭩﭪﭫﭬ
ﭭ
Và Thượng Đế của Ngươi là Đấng Toàn Năng, Đấng Rất Mực Khoan Dung.
آية رقم 141
ﭮﭯﭰ
ﭱ
Và (người dân) Thamud đã cho những Sứ Giả (của Allah) nói dối.
آية رقم 142
Khi người anh em của họ, Saleh, bảo: “Các người không sợ Allah ư?"
آية رقم 143
ﭺﭻﭼﭽ
ﭾ
“Ta là một Sứ Giả đáng tin cậy (đến) với các người."
آية رقم 144
ﭿﮀﮁ
ﮂ
“Do đó, hãy sợ Allah và nghe theo Ta."
آية رقم 145
“Ta không đòi hỏi các người tưởng thưởng Ta về nó (Thông Điệp của Allah). Thượng Đế của vũ trụ và muôn loài sẽ ân thưởng Ta."
آية رقم 146
ﮐﮑﮒﮓﮔ
ﮕ
“Phải chăng các người sẽ được an toàn hưởng thụ những tiện nghi hiện có nơi đây hay sao?"
آية رقم 147
ﮖﮗﮘ
ﮙ
“Nơi những hoa viên và suối nước?"
آية رقم 148
ﮚﮛﮜﮝ
ﮞ
“Với những cánh đồng bắp lúa và vườn cây chà là hoa lá mịn màng?"
آية رقم 149
ﮟﮠﮡﮢﮣ
ﮤ
“Và các người đã khéo tay đục núi xây nhà trong đó."
آية رقم 150
ﮥﮦﮧ
ﮨ
“Do đó, hãy sợ Allah và nghe theo Ta."
آية رقم 151
ﮩﮪﮫﮬ
ﮭ
“Và chớ nghe theo mệnh lệnh của những kẻ thái quá."
آية رقم 152
ﮮﮯﮰﮱﯓﯔ
ﯕ
“Những ai đã làm những điều thối nát trong xứ nhưng không sửa mình.”
آية رقم 153
ﯖﯗﯘﯙﯚ
ﯛ
Họ đáp: “Ông chỉ là một người bị mê hoặc."
آية رقم 154
“Ông chỉ là một người phàm như chúng tôi. Thế, hãy mang một Phép Lạ đến cho chúng tôi thấy nếu ông là một người nói thật.”
آية رقم 155
(Saleh) đáp: “Đây là con lạc đà cái. Nó uống phần nước của nó và các người uống phần nước của các người vào một ngày đã được qui định."
آية رقم 156
“Và chớ giết nó sợ lằng các người sẽ bị trừng phạt vào một Ngày vĩ đại.”
آية رقم 157
ﯺﯻﯼ
ﯽ
Nhưng chúng đã cắt nhượng nó và sau đó đâm ra hối hận.
آية رقم 158
Do đó, chúng đã bị trừng phạt. Trong đó là một dấu hiệu. Nhưng đa số bọn chung không tin tưởng.
آية رقم 159
ﰋﰌﰍﰎﰏ
ﰐ
Và Thượng Đế của Ngươi là Đấng Toàn Năng, Đấng Rất Mực Khoan Dung.
آية رقم 160
ﭑﭒﭓﭔ
ﭕ
Người dân của Lut cũng đã cho những Sứ Giả nói dối.
آية رقم 161
Khi người anh em của họ, Lut, bảo: “Các người không sợ Allah ư?"
آية رقم 162
ﭞﭟﭠﭡ
ﭢ
"Ta thực sự là một Sứ Giả đáng tin cậy (đến) với các người."
آية رقم 163
ﭣﭤﭥ
ﭦ
“Do đó, hãy sợ Allah và nghe theo Ta."
آية رقم 164
"Ta không đòi hỏi các người tưởng thưởng Ta về nó (Thông Điệp của Allah). Chỉ Thượng Đế của vũ trụ và muôn loài sẽ ân thưởng Ta."
آية رقم 165
ﭴﭵﭶﭷ
ﭸ
“Phải chăng trong vũ trụ, duy chỉ các người là những kẻ đã đến (làm tình) với đàn ông."
آية رقم 166
“Và bỏ rơi những người mà Allah đã tạo ra cho các người để làm vợ? Không, các người là những kẻ đã làm điều thái quá.”
آية رقم 167
Họ đáp: “Nếu không chịu ngưng, hỡi Lut, thì ông sẽ bị trục xuất.”
آية رقم 168
ﮏﮐﮑﮒﮓ
ﮔ
(Lut) bảo: "Ta là một người thù ghét việc làm của các người."
آية رقم 169
ﮕﮖﮗﮘﮙ
ﮚ
“Lạy Thượng Đế của bề tôi! Xin Ngài giải cứu bề tôi và gia đình của bề tôi khỏi điều (tội lỗi) mà chúng đã làm.”
آية رقم 170
ﮛﮜﮝ
ﮞ
Bởi thế, TA đã giải cứu Lut và gia đình của Y, tất cả;
آية رقم 171
ﮟﮠﮡﮢ
ﮣ
Ngoại trừ một bà lão (vợ Lut) trong số những người ở lại đằng sau.
آية رقم 172
ﮤﮥﮦ
ﮧ
Rồi, TA đã tiêu diệt đám người còn lại;
آية رقم 173
Và TA đã xối lên chúng một trận mưa đích đáng. Và tai ác thay trận mưa (đá) xối lên đầu những kẻ đã được cảnh cáo trước!
آية رقم 174
Trong đó là một dấu hiệu. Nhưng đa số bọn chúng không tin.
آية رقم 175
ﯛﯜﯝﯞﯟ
ﯠ
Thượng Đế của Ngươi là Đấng Toàn Năng, Đấng Rất Mực Khoan Dung.
آية رقم 176
ﯡﯢﯣﯤ
ﯥ
Dân cư tại Khu rừng gần Madyan đã cho những Sứ Giả nói dối,
آية رقم 177
ﯦﯧﯨﯩﯪﯫ
ﯬ
Khi Shu’aib bảo họ: “Các người không sợ Allah hay sao?"
آية رقم 178
ﯭﯮﯯﯰ
ﯱ
"Ta thực sự là một Sứ Giả đáng tin cậy (đến) với các người."
آية رقم 179
ﯲﯳﯴ
ﯵ
“Do đó, hãy sợ Allah và nghe theo Ta."
آية رقم 180
“Và Ta không đòi hỏi các người tưởng thưởng Ta về nó. Thật sự Thượng Đế của vũ trụ và muôn loài se ân thưởng Ta."
آية رقم 181
“Hãy đo cho đủ và chớ làm cho người khác mất mát."
آية رقم 182
ﰋﰌﰍ
ﰎ
"Và hãy cần với một bàn cân thẳng đứng."
آية رقم 183
“Và chớ lấy bớt vật dụng của người và chớ hành động thối nát trên mặt đất, gieo rắc tội ác."
آية رقم 184
ﭑﭒﭓﭔﭕ
ﭖ
“Và hãy sợ Allah, Đấng đã tạo hóa các người và những thế hệ trước.”
آية رقم 185
ﭗﭘﭙﭚﭛ
ﭜ
Họ đáp: “Ông chỉ là một người bị mê hoặc."
آية رقم 186
“Và ông là một người phàm như chúng tôi và chúng tôi nghĩ ông là một người nói dối."
آية رقم 187
"Thế, ông hãy làm cho một phần trời sụp xuống đè chúng tôi đi nếu ông là một người nói thật.”
آية رقم 188
ﭱﭲﭳﭴﭵ
ﭶ
Y bảo: “Thượng Đế của Ta là Đấng biết rõ điều mà các người đã làm.”
آية رقم 189
Nhưng họ đã cho Y nói dối. Bởi thế, họ đã gánh chịu Hình phạt của một Ngày mịt trời; đó là sự trừhg phạt của một Ngày vĩ đại.
آية رقم 190
Quả thật, trong đó là một dấu hiệu; Nhưng đa số bọn chúng là những kẻ không tin tưởng.
آية رقم 191
ﮍﮎﮏﮐﮑ
ﮒ
Thượng Đế của Ngươi là Đấng Toàn Năng, Đấng Rất Mực Khoan Dung.
آية رقم 192
ﮓﮔﮕﮖ
ﮗ
Quả thật, Nó (Qur'an) do Thượng Đế của vũ trụ ban xuống.
آية رقم 193
ﮘﮙﮚﮛ
ﮜ
Thiên Thần Jibril đã mang Nó xuống;
آية رقم 194
ﮝﮞﮟﮠﮡ
ﮢ
Đặt vào quả tim của Ngươi (Muhammad) để Ngươi trở thành một Người báo trước;
آية رقم 195
ﮣﮤﮥ
ﮦ
Bằng tiếng Ả Rập trong sáng;
آية رقم 196
ﮧﮨﮩﮪ
ﮫ
Quả thật, Nó (đã được nhắc đến) trong những Kinh Sách cũ.
آية رقم 197
Và hẳn Nó không là một dấu hiệu cho họ hay sao bởi vì những người có học trong số con cháu của Israel đã công nhận Nó?
آية رقم 198
ﯗﯘﯙﯚﯛ
ﯜ
Và nếu TA có ban Nó xuống cho một người không phải gốc gác Ả Rập,
آية رقم 199
ﯝﯞﯟﯠﯡﯢ
ﯣ
Để y đọc lại cho họ thì họ vẫn không tin tưởng nơi Nó.
آية رقم 200
ﯤﯥﯦﯧﯨ
ﯩ
Bằng cách đó, TA đã làm cho nó (việc phủ nhận Qur'an) thấm vào lòng của những kẻ tội lỗi;
آية رقم 201
Họ sẽ không tin tưởng nơi Nó (Qur'an) cho đến khi đối diện với sự trừng phạt đau đớn;
آية رقم 202
ﯲﯳﯴﯵﯶ
ﯷ
Bởi Vì nó sẽ đến chụp bắt họ bất ngờ trong lúc họ không nhận thấy.
آية رقم 203
ﯸﯹﯺﯻ
ﯼ
Sau đó, họ sẽ than: “Chúng tôi có được gia hạn hay chăng?”
آية رقم 204
ﯽﯾ
ﯿ
Thế, họ còn hối thúc hình phạt cho mau đến nữa hay chăng?
آية رقم 205
ﰀﰁﰂﰃ
ﰄ
Há Ngươi nhận thấy, nếu TA cho họ hưởng lạc thêm nhiều năm nữa,
آية رقم 206
ﰅﰆﰇﰈﰉ
ﰊ
Rồi sau đó, hình phạt đã được hứa sẽ đến chụp bắt họ,
آية رقم 207
ﭑﭒﭓﭔﭕﭖ
ﭗ
Thì việc hưởng thụ đó của họ chẳng giúp ích gì được cho họ cả;
آية رقم 208
Và quả thật, TA chỉ tiêu diệt một thị trấn sau khi đã có những người báo trước được cử phái đến với nó;
آية رقم 209
ﭠﭡﭢﭣ
ﭤ
Để làm công việc nhắc nhở. Bởi vì TA không hề bất công.
آية رقم 210
ﭥﭦﭧﭨ
ﭩ
Và không phải những tên Shaytan mang Nó (Qur'an) xuống.
آية رقم 211
ﭪﭫﭬﭭﭮ
ﭯ
Bởi vì việc làm đó không thích hợp với chúng và chúng cũng không có khả năng (làm được việc đó).
آية رقم 212
ﭰﭱﭲﭳ
ﭴ
Thật sự, chúng bị đuổi ra xa không cho nghe (Qur'an).
آية رقم 213
Bởi thế, chớ cầu nguyện một thần linh nào khác cùng với Allah bởi vì làm thế, Ngươi sẽ là một trong những kẻ bị trừng phạt.
آية رقم 214
ﭿﮀﮁ
ﮂ
Và hãy cảnh cáo thân tộc gần gũi của Ngươi (Muhammad).
آية رقم 215
ﮃﮄﮅﮆﮇﮈ
ﮉ
Hãy đối xử từ tốn với những người có đức tin theo Ngươi.
آية رقم 216
Nhưng nếu họ bất tuân Ngươi thì hãy bảo (họ): "Ta vô can về những điều các người làm."
آية رقم 217
ﮒﮓﮔﮕ
ﮖ
Và hãy phó thác cho Đấng Toàn Năng, Đấng Rất Mực Khoan Dung.
آية رقم 218
ﮗﮘﮙﮚ
ﮛ
Ngài thấy Ngươi khi Ngươi đứng (dâng lễ Tahajjud ban đêm).
آية رقم 219
ﮜﮝﮞ
ﮟ
Và cả động tác của Ngươi trong số những người sụp lạy.
آية رقم 220
ﮠﮡﮢﮣ
ﮤ
Bởi vì quả thật, Ngài là Đấng Hằng Nghe, Đấng Hằng Biết.
آية رقم 221
ﮥﮦﮧﮨﮩﮪ
ﮫ
Há Ta (Muhammad) sẽ phải báo cho các người biết ai là kẻ mà những tên Shaytan thường xuống gặp?
آية رقم 222
ﮬﮭﮮﮯﮰ
ﮱ
Chúng hay xuống nhập với từng tên nói dối và tội lỗi.
آية رقم 223
ﯓﯔﯕﯖ
ﯗ
Chúng lắng nghe (những tên Shaytan) và đã số bọn chúng là những tên nói dối.
آية رقم 224
ﯘﯙﯚ
ﯛ
Và các thi sĩ, chỉ những kẻ lầm lạc mới nghe theo chúng.
آية رقم 225
Há Ngươi không thấy chúng lang thang vơ vẩn nơi mỗi thung lũng?
آية رقم 226
ﯤﯥﯦﯧﯨ
ﯩ
Và chúng nói ra điều mà chúng không làm hay sao?
آية رقم 227
Ngoại trừ những ai có đức tin, làm việc thiện, tụng niệm Allah nhiều và giành thắng lợi (từ những kẻ đa thần) sau khi đã bị đối xử bất công. Và những kẻ làm điều sai quấy sẽ sớm biết đâu là cuộc đổi đời mà họ sẽ phải gánh chịu sau này.
تقدم القراءة